Hóa học của các loại nhựa gia dụng

Nhựa có ở khắp mọi nơi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta – nhưng hẳn nhiên, “nhựa” chỉ là một thuật ngữ dùng để trình diễn.# cho một loạt các chất hóa học khác nhau. Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét một số loại nhựa phổ thông mà mọi người gặp thẳng và rà soát xem cấu trúc hóa học của chúng như thế nào nhé!

quơ các loại nhựa chúng ta sử dụng hoặc gặp phải được gọi chung là polymer. Các polymer này được hình thành từ các thực thể hóa học đơn giản được gọi là monomer. Monomer có thể là một loạt các hợp chất khác nhau, nhưng các polymer cụ thể thường sẽ chứa các monomer chỉ có một hoặc hai loại. Các polymer được hình thành bằng cách kết hợp nhiều đơn phân, giống như một chuỗi kẹp giấy dài, tạo thành một phân tử dài.

Hãy coi xét một thí dụ đơn giản để làm cho điều này rõ ràng hơn. Polyethene là một loại nhựa, hoặc polymer, được sử dụng rộng rãi trong túi mua sắm bằng nhựa, màng nhựa và để làm một số đồ chơi. Nó được hình thành từ nhiều monomer của phân tử nhỏ, ethene. Ở nhiệt độ và áp suất cao, và với sự có mặt của oxy làm chất xúc tác, một trong hai kết liên giữa hai nguyên tử cacbon trong phân tử có thể được tạo ra để phá vỡ và cho phép chúng hình thành liên kết với các phân tử ethene khác.

Các điều kiện khác cũng có thể được dùng, để sản xuất các phiên bản của cùng một loại polymer với các tính chất khác nhau; polyethene có nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như polyethene mật độ cao (HDPE) hoặc polyethene mật độ thấp (LDPE). Các monomer khác nhau cũng có thể được dùng để cung cấp các polymer khác nhau. thí dụ, nếu chúng ta sử dụng propene làm monomer thay vì ethene, chúng ta thu được polypropene.

Một số polymer được biết đến nhiều hơn bằng tên thương mại hoặc chữ viết tắt so với tên hóa học đầy đủ của chúng. ví dụ, hầu hết những người không phải là nhà hóa học có thể sẽ không nhận ra tên polytetrafluoroethene, nhưng họ có thể biết bằng tên thương mại của nó, Teflon. na ná, nhựa được sử dụng để tạo ra một tỷ lệ lớn các chai nước bằng nhựa, polyetylen terephthalate, được biết đến nhiều hơn trong bối cảnh đó bằng chữ viết tắt của nó, PET. Nó cũng được dùng trong xống áo, khi đó nó thường được gọi đơn giản là polyester (đáng chú ý là các polyester thực sự là một loại polymer, chứ không phải là một polymer riêng lẻ).

cho nên đó là cách các loại nhựa này được tạo ra! Nhưng các phân tử chúng ta dùng để tạo ra chúng ở đâu ngay từ đầu? Nguyên liệu thô mà chúng ta sử dụng để tạo ra các phân tử này đến từ dầu thô, và trên thực tại, khoảng 5% dầu trên toàn thế giới đi vào sinh sản nhựa. Có khoảng 40 hóa chất căn bản khác nhau trong dầu thô, có thể được sử dụng để tạo ra một số lượng lớn các hóa chất khác. Một số trong số này, lần lượt có thể được trùng hợp để tạo thành nhựa.

Bạn có thể đã nghe nói về khái niệm dầu cực đại, thời khắc được đề xuất khi tốc độ phá hoang dầu từ Trái đất đạt đến điểm cao nhất, trước khi bắt đầu giảm khi trữ lượng giảm dần. Tất nhiên, nếu chúng ta bắt đầu cạn kiệt dầu, chúng ta cũng sẽ cạn kiệt nguồn của nhiều hóa chất được dùng để sinh sản nhựa. Nếu chúng ta bắt đầu dùng hết các Nguyên liệu hóa học cần thiết để sản xuất nhiều hơn, chúng ta có thể phải bắt đầu tìm sản phẩm thay thế cho khuôn khổ vận dụng rộng rãi này.

Một vấn đề khác với nhựa là làm thế nào để xử lý chúng. Nhiều loại nhựa khác nhau chẳng thể phân hủy sinh học và có thể mất tới hàng ngàn năm để phân hủy do hậu quả của việc tiếp xúc với bức xạ UV từ kim ô. dĩ nhiên, thời gian phân hủy này chỉ là một ước tính, vì chúng ta đã không dùng nhựa đủ lâu để quan sát thấy sự phân rã hoàn toàn của chúng. Do đó, việc xử lý của chúng đặt ra nhiều vấn đề vì bãi rác đòi hỏi không gian và các phương pháp xử lý khác có vấn đề riêng – ví dụ, trong một số trường hợp, việc đốt nhựa có thể phóng thích khí độc. Những vấn đề xử lý này là một trong những lý do tái chế nhựa được khuyến khích.

rốt cục, điều đáng chú ý là các polymer không phải lúc nào cũng do con người tạo ra; DNA và ARN là một ví dụ về polymer tự nhiên, và cả cellulose và lignin, được tìm thấy trong thực vật, là những thí dụ khác. Chúng ta sẽ coi xét thêm về polymer trong một số bài viết trong tương lai. Nhớ follow nhé!

Trên đây là những điều ưa về hóa học của các loại nhựa gia dụng. trông sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , American Chemistry .

Hóa học đằng sau nhẫn cưới

Hiên tại thì tôi đã lập gia đình cách đây cũng được 2 năm, mọi thứ trôi qua thật nhanh như một cái chớp mắt. Tôi thầm cảm ơn người nữ giới luôn bên cạnh tôi những lúc khó khăn hay nặng nhọc. Chiếc nhẫn trao nhau như một lời hứa dù sang giàu hay khó khăn cũng cùng nhau vượt qua. Nhưng có bao lăm bạn hiểu rõ về hóa học đằng sau những chiếc nhẫn cưới này? thành ra trong bài viết lần này, tôi sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về nó nhé!

Có một loạt các nguyên liệu có thể để chọn lựa khi chọn nhẫn cưới. đầu tiên, đó là các loại vàng và bạc. Sau đó là các vật liệu mới hơn, nghe hay hơn, như zirconium đen và cacbua vonfram. Từ giác độ hóa học, các tên phổ thông được đặt cho các nguyên liệu này che giấu bản chất hóa học phức tạp hơn. Vàng không chỉ là vàng, bạc không chỉ là bạc và thậm chí cacbua vonfram còn chứa các thành phần khác ẩn dấu bên trong.

kim khí trắng

Bạc, bạch kim và palađi được gọi là kim khí trắng khi nói đến đồ trang sức. Bạc là phổ thông hơn trong ba loại, cũng như là ít tốn kém nhất. Nhẫn bạc được làm từ bạc sterling, đây là hợp kim (hỗn tạp kim khí). Bạc sterling phải chứa tối thiểu 92,5% bạc. Đồng thường chiếm tỷ lệ còn lại. Hợp kim này là cần thiết vì bạc nguyên chất khá dễ uốn – có tức thị nó có thể uốn cong theo dạng hình theo thời gian. Việc thêm đồng làm tăng độ cứng của bạc và làm cho nó dễ uốn hơn.

Nhẫn bạch kim và palađi nằm ở phía đắt hơn của phổ nhẫn cưới. Chúng cũng không bao gồm các kim loại đơn và được hợp kim với các kim khí khác để cải thiện tính chất của chúng. Nhẫn làm từ hai kim loại này thường có độ tinh khiết 95%. Tỷ lệ còn lại thường là ruthenium, iridium hoặc rhodium. Nhẫn bạch kim có tỉ trọng cao nhất của các kim loại trong các loại nhẫn cưới; điều này có tức thị bạn sẽ cảm thấy nặng hơn khi sử dụng.

kim khí vàng

Giống như bạc, vàng nguyên chất quá dễ uốn đối với đồ trang sức thời trang. Khi hợp kim với các kim khí khác, các đặc tính vượt trội có thể đạt được, cùng với một loạt các màu sắc.

Vàng có màu vàng duy trì màu sắc đặc trưng của vàng, nhưng bạc và một lượng nhỏ đồng làm cho nó có khả năng đàn hồi ăn nhập. Vàng hồng cũng chứa đồng và bạc cùng với vàng, nhưng lượng đồng cao hơn một tí sẽ tạo ra màu sắc đồng. trong khi đó vàng trắng là một hợp kim thường bao gồm vàng với paladi hoặc bạch kim. Nó có nhiều màu bạc hơn là vẻ ngoài vàng. Điều này do thực tế là nó thường được mạ rhodium, thêm độ cứng và bóng sáng.

Độ thuần khiết của nhẫn vàng có thể được đo bằng đơn vị carat. Vàng 24 cara là vàng 100%, mà bạn sẽ không tìm thấy trong một chiếc nhẫn do độ mềm của vàng. Vàng 18 cara là phổ thông hơn (75% vàng), trong khi vàng 14 carat (58,5%) rẻ hơn do hàm lượng vàng thấp hơn.

kim khí mới hơn

Titan, zirconi, vonfram và thép là kim loại nhẫn cưới ngày một phổ biến. Chúng có lợi thế là rẻ hơn so với các kim loại như vàng và bạch kim, cũng như bền hơn.

Như với các kim khí trước đây chúng ta đã đề cập, mặc dù chúng được gọi bằng tên của kim khí chính mà chúng chứa, chúng đều là hổ lốn của các kim loại. Vòng titan thường được làm từ titan dùng cho tàu bay, đây là một hợp kim với một lượng nhỏ vanadi và nhôm được thêm vào. Những chiếc nhẫn này có tỉ trọng thấp nhất trong số các nguyên liệu làm nhẫn cưới, có tức là chúng đặc biệt nhẹ đối với kích tấc của chúng.

Vòng vonfram được làm từ cacbua vonfram, một hợp chất của vonfram và carbon và là một trong những nguyên liệu ít được biết nhất. Nếu bạn có một chiếc nhẫn được làm từ cacbua vonfram, việc lo âu chiếc nhẫn của bạn bị trầy xước không phải là vấn đề – nếu có bất cứ điều gì, bạn nên lo âu về chiếc nhẫn của mình làm trầy xước các vật thể khác. Tuy nhiên, độ cứng cực cao của nó cũng có thể làm cho nó dễ bị vỡ.

Nhẫn cacbua vonfram cũng có một lượng nhỏ coban được thêm vào để cải thiện tính dễ uốn của chúng. Cobalt cũng là một chất liệu nhẫn theo đúng nghĩa của nó; nó thường được hợp kim với crom.

Các loại nhẫn zirconium đen được tạo ra bằng cách oxy hóa kim khí zirconium để tạo ra một lớp phủ oxit zirconium màu đen. Điều này sau đó được đánh bóng để tạo ra một bề mặt mịn, đen. Nó có tỉ trọng thấp phối hợp với độ cứng tốt khiến nó khó bị trầy xước. Các loại nhẫn zirconium thông thường thỉnh thoảng cũng được nhìn thấy.

chung cuộc, nhẫn thép không gỉ có nhẽ ít hấp dẫn hơn, nhưng cũng khá đàn hồi. Thép là hợp kim của sắt và carbon; thép không gỉ chứa tối thiểu 10,5% crôm.

Vậy làm thế nào để thay đổi kích tấc nhẫn?

Một số người có thể sử dụng cả đời mà không cần thay đổi kích tấc nhẫn cưới, nhưng đối với những người khác, có thể đến lúc nào đó nó cần được mở rộng (hoặc làm nhỏ hơn, v.v …). Tại thời khắc này, nguyên liệu mà chiếc nhẫn của bạn đang đeo được làm nguyên liệu nào có thể quyết định liệu điều đó có thể hay không?

Đối với các nhẫn dựa trên các kim loại mềm hơn, như vàng, bạc, bạch kim và palađi, việc đổi thay kích tấc là khá đơn giản. Đối với các kim khí khác, cứng hơn, thay đổi kích thước là vấn đề khó hơn. Thí dụ như nhẫn zirconium và vonfram đen gần như chơi thể đổi thay kích thước. dù rằng vòng titan và thép không gỉ có thể đổi thay kích thước, nhưng nó cũng khá khó khăn và nếu có thể thường chỉ có thể được thay đổi trong giới hạn. Vì thế, việc bạn ghi nhớ vật liệu sử dụng trong chiếc nhẫn mà bạn mua là điều khôn cùng quan trọng, để có thể giải quyết những vấn đề gặp phái sau này!

Trên đây là những điều thích thú về hóa học đằng sau chiếc nhẫn cưới. trông sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chúng thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Weddingrings-direct , Nutrangcuoivn Wedding.celeb .

Hóa học đằng sau Lễ Tạ ơn

Lễ Tạ ơn là thời gian dành cho những người nhà yêu, ăn những món ăn được tôn vinh theo thời gian và ngẫm ngợi về những gì chúng ta hàm ân. Đó cũng là thời gian gia đình đoàn viên với nhau. Bữa tiệc vui vẻ sẽ diễn ra tại nhà ông bà hay chú của bạn? Bạn có làm khoai lang nướng hoặc vàng Yukon nghiền không? Bạn có phục vụ giăm bông, thịt cừu hoặc thịt bò nướng cùng với món gà tây quyến rũ không? Và nếu bạn là một người mến mộ bóng đá, bạn sẽ chọn câu lạc bộ nào?

Câu đáp cho nhiều cuộc tranh luận trong số những cuộc bàn cãi về thức ăn, có thể được tìm thấy trong hóa học. Hãy theo dõi bài viết này để hiểu rõ hơn về vai trò của hóa học trong Lễ Tạ ơn tiệt của bạn nhé!

Đôi nét về Lễ Tạ ơn

Theo wikipedia thì Lễ Tạ ơn hay Thanksgiving là một ngày lễ hàng năm được tổ chức đốn tại Hoa Kỳ, Canada, một số đảo ở Caribe và Liberia. ý nghĩa ban sơ là mừng thu hoạch được mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã cho cuộc sống sung túc và an lành. Đây cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, cho tất cả người cần lao theo luật định tại Mỹ và Canada.

Ngày và nơi diễn ra lễ Tạ ơn đầu tiên là chủ đề của một cuộc bàn cãi nhỏ. dù rằng lễ Tạ ơn sớm nhất đã được kiểm chứng diễn ra vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại khu vực mà ngày nay là Saint Augustine, Florida, nhưng “lễ Tạ ơn trước hết” theo truyền thống được coi là đã diễn ra tại khu vực thuộc thuộc địa Plymouth vào năm 1621.

ngày nay, tại Hoa Kỳ, lễ Tạ ơn được tổ chức vào ngày thứ Năm lần thứ tư của tháng 11, cho nên ngày này có thể không phải là ngày thứ năm chung cục của tháng 11 như nhiều người lầm tưởng (tỉ dụ năm 2012, tháng 11 có đến 5 ngày thứ năm). Tại Canada, nơi có cuộc thu hoạch sớm hơn, ngày lễ này được tổ chức vào ngày thứ Hai lần thứ hai của tháng 10.

Thịt trắng so với thịt đen sẫm màu

Khi bạn đến bàn, bạn sẽ luôn có một cuộc tranh luận nội tâm với chính mình về việc chọn thịt trắng hoặc thịt đen. Một số người tin rằng thịt trắng là một thay thế lành mạnh hơn cho thịt đen béo hơn. Nhưng bạn có biết rằng thịt sẫm màu có nhiều myoglobin hơn thịt trắng?

Điều này rất quan yếu để lưu ý vì myoglobin đóng vai trò mang oxy đến các mô cơ. Lượng myoglobin phụ thuộc vào loại cơ. Sợi cơ phản ứng chậm (slow twitch fibers) hoạt động chậm hơn trong thời gian dài hơn, vì khi chân của một con gà tây hỗ trợ cơ thể của nó. Những sợi này đòi hỏi nhiều oxy hơn để hoạt động và do đó có nhiều myoglobin hơn.

Chất béo cũng là một nguồn năng lượng quan yếu, đó là lý do tại sao thịt sẫm màu có xu hướng chất béo cao hơn một tẹo. Sợi cơ phản ứng nhanh (fast twitch fibers) được tìm thấy trong thịt trắng. Chúng hoạt động nhanh nhưng mỏi mệt mau chóng, vì khi một con gà tây sử dụng cơ ngực của nó cho những chuyến bay ngắn. vày những sợi này không dùng nhiều oxy, nên chúng cần ít myoglobin hơn. Chúng cũng nhận được nhiều năng lượng hơn từ glycogen và có thiên hướng gầy hơn.

Tryptophan so với carbohydrate

kiên cố, sau bữa tiệc Lễ Tạ ơn, bạn buồn ngủ. Bạn có thể đổ lỗi do hợp chất tryptophan cho điều đó. Tryptophan, C11 H12 N2 O, là một axit amin có chứa nhóm α-amino, nhóm axit α-carboxylic và mạch nhánh indole. Nó có thể được tìm thấy trong trứng, cá hồi, nai sừng tấm, các sản phẩm từ sữa, rong biển, nước tương, hạt vừng, hạt điều, và cố nhiên cũng có trong gà tây. dù rằng gà tây thường được cho là có hàm lượng tryptophan cao, nhưng phô mai Cheddar lại chứa nhiều tryptophan hơn cả.

Tryptophan đã được chứng minh là hỗ trợ sự tổng hợp serotonin và melatonin của thân giúp bạn ngủ ngon. Nhưng nó cũng giúp tương trợ hệ thống miễn nhiễm, hệ tuần hoàn, hệ tâm thần trung ương, sản xuất enzyme và có thể được chuyển đổi thành niacin (Vitamin B3).

Mặc dù tryptophan thường bị đổ lỗi cho giấc ngủ ngắn sau Lễ Tạ ơn, nhưng cơn buồn ngủ có nhiều khả năng là do tuốt những carbohydrate trong thực đơn. Carbohydrate kích hoạt tuyến tụy phóng thích insulin để điều chỉnh lượng glucose trong máu. Việc hấp thu nhiều carbohydrate hoặc đường dẫn đến liều insulin cao hơn, do đó, mau chóng làm giảm mức đường trong máu, làm giảm năng lượng có sẵn. Và điều đó khiến bạn cảm thấy mỏi mệt. Ngoài ra, con người có khuynh hướng sinh vật học thông thường đối với giấc ngủ ngay sau khi ăn.

Nâu nhạt so với nâu đậm

Cho dù gà tây, giăm bông, khoai lang, bánh cuộn và bánh nướng của bạn có màu nâu vàng nhạt hoặc màu caramel sâu, màu nâu là tuốt về phản ứng Maillard . Phản ứng Maillard là một thuật ngữ dùng để chỉ cho một nhóm các phản ứng chịu bổn phận cho một số hương vị tại bàn Lễ Tạ ơn.

Phản ứng xảy ra khoảng 140 – 160°C (280 – 330°F). Nó bắt đầu khi nhóm carbonyl trong phân tử sucrose phản ứng với một nhóm amino trong protein để tạo ra hợp chất glycosylamine. Các chất đồng phân glycoslyamine, sau đó phân hủy thành nhiều hợp chất tạo ra những màu nâu và mùi thơm hạt dẻ làm cho chúng ta chảy nước miếng trong miệng.

Khi nhiệt tăng, các phản ứng khác như caramen và nhiệt phân có thể xảy ra, tạo ra các hương vị và kết cấu bổ sung. Trong quá trình caramen, quá trình đốt nóng đường tạo ra caramel (C24 H36 O18 ), carmelens (C36 H50 O25) và carmelins (C125 H188 O80 ). Nhiệt độ cao hơn làm cho đường bị phân hủy và ngưng tụ, nước nóng lên và các hợp chất dễ bay hơi khác tạo ra hương vị hạt dẻ, màu sắc và kết cấu làm tăng cường các loại kẹo dẻo ngon.

Các phản ứng Maillard và caramel hóa là lý do tại sao việc nướng giăm bông của bạn với mật ong tạo ra lớp vỏ đặc biệt đó và tại sao nước rửa trứng (egg-wash) làm cho cuộn của bạn có màu nâu vàng. Để có được màu sắc và hương vị bạn muốn, điều chỉnh thời kì nướng và nhiệt độ hoàn hảo cho nước men mong muốn của bạn.

Nước sốt dày so với nước sốt mỏng

Sự dày lên của nước sốt (và các chất lỏng khác, như nước sốt nam việt quất và nhân bánh trái cây) phụ thuộc vào phản ứng tinh bột. Điều này giới thiệu một cuộc tranh biện khác: bột bắp, bột mì, hoặc bột arrowroot để làm dày?

Trong tuốt tuột các nguồn tinh bột này, tinh bột bao gồm amyloza (C6 H10 O5 ) và amylopectin (C6 H10 O5 ). Đó là cấu trúc quan trọng. Amyloza được nối thẳng hơn, trong khi amylopectin có nhiều nhánh hơn. Để chuẩn bị món ăn, tinh bột được xúc tiếp với một chất lỏng như nước ép cho nước thịt, hoặc nước ép trái cây cho bánh.

Khi bạn lần trước tiên trộn chất làm đặc của bạn với chất lỏng (có thể là nguyên nguyên liệu, mỡ heo/bò hoặc nước ép trái cây), các hạt nhỏ bắt đầu thu nhận một tẹo chất lỏng. Nhưng đích thực không có nhiều hóa học xảy ra ở tuổi này. Bạn chỉ đang cụ để các hạt được phân tán đều trong hỗn hợp, nếu không, nước thịt sần có thể có trong thực đơn.

Sau khi hỗn tạp được làm nóng, tinh bột bắt đầu hồ hóa. Các liên kết liên phân tử bị phá vỡ trong sự hiện diện của nước và sự gia tăng năng lượng (từ nhiệt). Khi các phân tử tinh bột được giải phóng, nhiều kết liên hydro xảy ra, tạo thành một mạng lưới rốt cục dày lên hoặc gel.

Việc tinh bột đặc hay gel phụ thuộc vào tỷ lệ amyloza so với amylopectin, đổi thay tùy theo loài thực vật. Amylopectin hình thành nhiều kết liên hydro (và hình thành chúng nhanh hơn) so với amyloza và do đó có xu hướng tạo thành gel. Trong cả tinh bột tiểu mạch (tức là bột mì) và bột bắp, tỷ lệ amyloza: amylopectin là 25:75.

thành thử, chúng dày lên ở cùng một tỷ lệ. Tuy nhiên, bột cũng có chứa rất nhiều thứ trong đó ngoài tinh bột (nghĩa là protein, carbohydrate khác), bởi thế nó cung cấp một chấm dứt mây đục quen thuộc với nước thịt. Bột bắp là tinh bột thuần chất, nên chi nó có khuynh hướng trong mờ hơn, lý tưởng cho bánh nướng trái cây. Trong tinh bột nghệ arrowroot, tỷ lệ này có thể cao đến 1:99, và vì vậy, rất tốt cho bất cứ thứ gì bạn muốn tạo gel, như bánh trái cây hoặc thạch.

Ngoài ra, bàn Lễ Tạ ơn không chỉ chứa đầy thức ăn ngon mặc cả hóa học tốt. Người ta chỉ phải mất một tiếng rít để phát hiện vanillin (vanilla) và eugenol (đinh hương). Hoặc nhìn vào bàn để tìm nhũ tương (nước trộn salad) và huyền phù (kem đánh bông). Hoặc có được một kết cấu của các kết cấu được tạo ra từ việc phối hợp sữa và khoai tây, phô mai tan chảy, và nướng bánh mì.

Và rút cuộc, hãy nếm thử kết quả hảo hạng của các phản ứng và hóa chất phức tạp khiến chúng ta mong đợi ngày lễ Tạ ơn năm này qua năm khác. Và sau bữa ăn? Vẫn còn nhiều sự lựa chọn để đưa ra trò chơi nào để xem hoặc khi nào đi mua sắm!

Đến đây thì bài viết đã hết rồi. cầu mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học dằng sau nó nhé!

Tham khảo In chemistry , Compound Interest , Chembites Science Meets Food .

Phản ứng hóa học diễn ra xung quanh bạn

Hóa học xảy ra trong thế giới xung quanh bạn, không chỉ trong phòng thử nghiệm. Vật chất tương tác với nhau để tạo thành các sản phẩm mới phê duyệt một quá trình gọi là phản ứng hóa học. Mỗi khi bạn nấu ăn hoặc thu vén, đó là hoạt động hóa học. Cơ thể bạn sống và phát triển nhờ các phản ứng hóa học. Có những phản ứng khi bạn uống thuốc, châm một que diêm và hít một hơi. Những thí dụ về các phản ứng hóa học từ cuộc sống hàng ngày là một tỉ dụ nhỏ về hàng trăm ngàn phản ứng bạn trải qua trong cuộc thế của bạn.

nên chi để giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này. Bài viết lần này chúng ta sẽ tìm hiểu về một vài phản ứng hóa học diễn ra xung quanh chúng ta. Bạn hãy đếm xem bạn đã thấy được bao nhiêu trong những phản ứng sau đây và hãy để lại bình luận bên dưới cho mọi người biết nhé!

1. Quang hợp

Thực vật ứng dụng một phản ứng hóa học gọi là quang hợp để chuyển đổi carbon dioxide và nước thành thức glucose và oxy. Đây là một trong những phản ứng hóa học hàng ngày phổ thông nhất và cũng là một trong những phản ứng quan yếu nhất vày đây là cách thực vật sinh sản thức ăn cho bản thân và động vật và chuyển đổi carbon dioxide thành oxy. Phương trình của phản ứng là:

6 CO 2 + 6 H 2 O + ánh sáng → C 6 H 12 O 6 + 6 O 2

2. Hô hấp tế bào hiếu khí

Hô hấp tế bào hiếu khí là quá trình quang hợp trái lại trong đó các phân tử năng lượng được kết hợp với oxy chúng ta thở để giải phóng năng lượng cấp thiết cho các tế bào của chúng ta cộng với carbon dioxide và nước. Năng lượng được sử dụng bởi các tế bào là năng lượng hóa học ở dạng ATP, hoặc adenosine triphosphate.

Đây là phương trình tổng thể cho hô hấp tế bào hiếu khí:

C 6 H 12 O 6 + 6 O 2 → 6 CO 2 + 6 H 2 O + năng lượng (36 ATP)

3. Hô hấp kỵ khí

Hô hấp kỵ khí là một tập kết các phản ứng hóa học cho phép các tế bào lấy năng lượng từ các phân tử phức tạp mà không cần oxy. Các tế bào cơ của bạn thực hành hô hấp yếm khí bất cứ khi nào bạn xả hết oxy được cung cấp cho chúng, chẳng hạn như trong khi tập thể dục cường độ cao hoặc kéo dài. Hô hấp kị khí bởi nấm men và vi khuẩn được khai khẩn để lên men để sản xuất ethanol, carbon dioxide và các hóa chất khác tạo ra phô mai, rượu, bia, sữa chua, bánh mì và nhiều sản phẩm phổ thông khác.

Phương trình hóa học tổng thể cho một hình thức hô hấp kỵ khí là:

C 6 H 12 O 6 → 2 C 2 H 5 OH + 2 CO 2 + năng lượng

4. Đốt cháy

Mỗi khi bạn đánh một que diêm, đốt một ngọn nến, đốt lửa hoặc thắp sáng, bạn sẽ thấy phản ứng đốt cháy. Sự đốt cháy phối hợp các phân tử năng lượng với oxy để tạo ra carbon dioxide và nước.

tỉ dụ, phương trình phản ứng đốt cháy propan, được tìm thấy trong vỉ nướng gas và một số lò sưởi, là:

C 3 H 8 + 5 O 2 → 4 H 2 O + 3 CO 2 + năng lượng

5. Rỉ sét

Theo thời gian, sắt phát triển một lớp phủ màu đỏ, dễ bong gọi là rỉ sét. Đây là một ví dụ về phản ứng oxy hóa. Các tỉ dụ hàng ngày khác bao gồm sự hình thành của màu xanh đồng trên đồng và xỉn màu bạc.

Đây là phương trình hóa học cho sự rỉ sét của sắt:

Fe + O 2 + H 2 O → Fe 2 O 3 .X H 2 O

6. Phản ứng bàn luận

Nếu bạn phối hợp giấm và baking soda để tạo ra một núi lửa hóa học hoặc sữa với bột nở trong công thức, bạn sẽ gặp phải sự dịch chuyển gấp đôi hoặc phản ứng luận bàn (cộng với một số thứ khác.) Các thành phần phối hợp lại để tạo ra khí carbon dioxide và nước. Carbon dioxide tạo thành bong bóng trong núi lửa và giúp các món nướng căng phồng lên.

Những phản ứng này có vẻ đơn giản trong thực tiễn nhưng thường bao gồm nhiều bước. Dưới đây là phương trình hóa học tổng thể cho phản ứng giữa baking soda và giấm:

HC 2 H 3 O 2 (aq) + NaHCO 3 (aq) → NaC 2 H 3 O 2 (aq) + H 2 O (l) + CO 2 (g)

7. Điện hóa học

Pin dùng các phản ứng điện hóa hoặc oxi hóa khử để chuyển đổi năng lượng hóa học thành năng lượng điện. Phản ứng oxi hóa khử tự phát xảy ra trong các tế bào mạ điện, trong khi các phản ứng hóa học không tự nhiên diễn ra trong các tế bào điện phân .

8. Tiêu hóa thức ăn

Hàng ngàn phản ứng hóa học diễn ra trong quá trình tiêu hóa. Ngay khi bạn cho thức ăn vào miệng, một loại enzyme trong nước miếng có tên là amylase bắt đầu phân hủy đường và carbohydrate khác thành các dạng đơn giản hơn mà Cơ thể bạn có thể tiếp nhận. Axit clohydric (HCl) trong dạ dày của bạn phản ứng với thức ăn để tiếp chuyện phá vỡ nó, trong khi các enzyme cắt protein và chất béo để chúng có thể được tiếp thu vào máu của bạn thông qua các thành của ruột.

9. Phản ứng axit-bazơ

Bất cứ khi nào bạn kết hợp một axit (ví dụ giấm, nước chanh, axit sulfuric hoặc axit muriatic) với một bazơ (ví dụ: baking soda, xà phòng, amoniac), bạn đang thực hiện phản ứng axit-bazơ. Những phản ứng này trung hòa axit và bazơ để tạo ra muối và nước.

Natri clorua không phải là muối độc nhất vô nhị có thể được hình thành. tỉ dụ, đây là phương trình hóa học cho phản ứng axit-bazơ tạo ra kali clorua, chất thay thế muối ăn thường nhật:

HCl + KOH → KCl + H 2 O

10. Phản ứng xà phòng và chất gột rửa

Xà phòng và chất tẩy rửa làm sạch bằng các phản ứng hóa học. Xà phòng nhũ hóa bụi bẩn, có tức là vết dầu nhờn kết liên với xà phòng để chúng có thể được nâng lên với nước. Chất tẩy rửa hoạt động như chất hoạt động bề mặt, làm giảm sức căng bề mặt của nước để nó có thể tương tác với các loại dầu, cô lập chúng và rửa sạch chúng.

11. Nấu nướng

nấu bếp sử dụng nhiệt để tạo ra những thay đổi hóa học trong thực phẩm. ví dụ, khi bạn đun sôi trứng, hydro sunfua được tạo ra bằng cách đun nóng lòng trắng trứng có thể phản ứng với sắt từ lòng đỏ trứng để tạo thành một vòng màu xanh xám xung quanh lòng đỏ. Khi bạn muốn giết nâu hoặc đồ nướng, phản ứng Maillard giữa axit amin và đường tạo ra màu nâu và hương vị mong muốn.

Trên đây là những phản ứng hóa học khích bạn có thể bắt gặp trong cuộc sống hàng ngày. nom bài viết sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu ai có hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco .

Hóa học đằng sau cây mao địa hoàng

Nếu vô tình ăn một lượng nhỏ cây mao địa hoàng thì bạn sẽ có cảm giác khó chịu, và trong một số trường hợp dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, các hợp chất làm cho nó độc cũng có thể có công dụng chữa bệnh. Trong bài viết này, tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hóa học đằng sau loài cây này nhé!

Đôi nét về cây mao địa hoàng

Cây mao địa hoàng hay còn gọi là hoa găng chồn (Foxglove), tên khoa học là Digitalis purpurea , là một loài thực vật có hoa trong họ Mã đề. Hoa nở thành từng chùm, có màu tím hồng rất trội. Vào mùa đông, cây mao địa hoàng phát triển lớn, có lông, vẫn xanh. Đến mùa hè, cây mọc cao lên và trổ hoa, những chùm hoa hình trái chuông màu tím hồng, có những ch m nhỏ bên trong mỗi cái hoa.

Sở hữu vẻ đẹp ấn tượng nhưng độc tính của loài hoa này cực cao. Theo nghiên cứu, tuốt bộ phận của cây đều độc hại (bao gồm cả hạt và rễ cây).

Trong cây mao địa hoàng, người ta tìm thấy có chứa glycosid tim trong đó đặc biệt hiểm là loại glycosid tim có tên gọi là digoxin. Tên khoa học digitalis của loài cây này cũng được đặt theo tên của độc tố mạnh nhất nó sở hữu.

Trong đó, một glycoside là một phân tử có chứa một phần steroid kết liên với một phần đường. Các glycoside trong loài mao địa hoàng được tìm thấy ở nồng độ cao hơn trong lá, nhưng chúng vẫn được tìm thấy trong tuốt tuột các bộ phận khác của cây.

Nuốt phải một lượng nhỏ các bộ phận của cây mao địa hoàng có thể gây ra các triệu chứng bao gồm buồn nôn, nôn và đi tả. Mặc dù có vẻ như là tình huống này không thể xảy ra, nhưng lá của loài này có thể dễ bị nhầm lẫn với các loại cây ăn được khác – có một trường hợp một người đàn ông nhầm lá với cây khác và pha trà thảo dược từ chúng . Số lượng lớn hơn có thể dẫn đến tử vong; Mặc dù các trường hợp này rất hiếm, nhưng chúng đã được ghi nhận .

mặc dầu độc tính của nó, mao địa hoàng thực sự đã được sử dụng trong y học trong một số thế kỷ. Trước đó, nó được dùng như một phương pháp điều trị cho ‘dropsy’, thứ mà ngày nay chúng ta nhận ra là bệnh phù nề, nguyên nhân là do thừa chất lỏng thu thập trong các mô của các bộ phận khác nhau của thân. bây chừ chúng ta cũng biết rằng tình trạng này thường là tác dụng phụ của các vấn đề về tim.

Việc sử dụng mao địa hoàng để điều trị chứng phù nề đã được thí điểm bởi một bác sĩ người Anh, William Withering. Trong quá trình ghi lại và rút cuộc công bố phát hiện của mình, ông đã phát hiện ra rằng chiết xuất từ mao địa hoàng là một phương pháp hiệu quả để điều trị chứng chảy nước mắt và suy tim – Mặc dù ông cũng phát hiện ra nó có thể có tác dụng khó chịu nếu dùng liều quá cao. Một trong những điều gây tò mò hơn trong số này là màu vàng của nhãn quang.

Chiết xuất mao địa hoàng, thành phần chính trong đó là glycoside tim digoxin và Digitoxin. Sau công việc của Withering, nó trở nên phương pháp điều trị phổ thông cho các vấn đề về tim, bao gồm cả suy tim. Điều này bất thường đối với một loại thuốc tồn tại từ thời cổ đại cho đến ngày nay, digoxin vẫn được chiết xuất từ ​​loài mao địa hoàng, vì các nhà hóa học khó có thể tổng hợp nó một cách hiệu quả và tằn tiện hoài.

Cấu trúc hóa học của Digoxin

Vậy làm thế nào để digoxin phát huy tác dụng có lợi của nó, và tại sao ranh giới giữa khả năng chữa lành và gây hại của nó lại mong manh như vậy?

Để giải đáp điều này, chúng ta cần có cái nhìn sâu sắc hơn về cách nó ảnh hưởng đến thân. Mặc dù cơ chế hoạt động chuẩn xác của nó vẫn chưa rõ ràng, nhưng người ta nghĩ rằng nó ảnh hưởng đến các bơm ion natri-kali trong các tế bào tim. Chúng thường loại bỏ các ion natri từ các tế bào.

Digoxin ngăn chặn natri được loại bỏ khỏi các tế bào, điều này có tác dụng kích thích làm cho nồng độ các ion canxi trong tế bào tăng lên. Điều này, đến lượt nó, can thiệp vào các tín hiệu điện khiến tim đập mạnh, khiến cho quá trình bơm của nó trở nên mạnh mẽ hơn nhưng chậm hơn.

Khả năng can thiệp và làm chậm nhịp tim này giúp digoxin bổ ích trong điều trị rối loạn nhịp tim. Nó vẫn có thể được dùng để điều trị suy tim, Mặc dù việc dùng nó đã bị khước từ với sự ra đời của các loại thuốc khác.

khuôn khổ sử dụng của nó rất gần với mức độ độc hại của nó – điểm mà tại đó các tác dụng khó chịu bắt đầu được nhìn thấy. Nếu dùng quá mức, nó làm chậm nhịp tim đến mức não bị thiếu oxy; Phản ứng phản xạ của thân là ráng và tăng nhịp tim, và điều này rốt cuộc dẫn đến một cơn đau tim.

rốt cuộc, dĩ nhiên, có rất nhiều trường hợp người dùng mao địa hoàng và digitalis cho các phương pháp bất chính hơn. Trích dẫn trường hợp một thầy thuốc người Đức đã sát hại bạn gái của mình bằng cách tiêm thuốc độc cho bạn gái của mình tức tốc. Charles Cullen, kẻ giết người hàng loạt nhất ở New Jersey, cũng đã dùng digoxin để giết một số nạn nhân của mình.

Không cần phải nói, nhưng hãy cảnh giác với loài mao địa hoàng này, đặc biệt là nếu bạn vô tình ăn nó. Tôi khuyên bạn hãy từng sự chăm nom y tế tức khắc.

Bài viết đến đây đã hết rồi. ngó sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Khoa học & Phát triển , Wikipedia , Compound Interest ChemistryWorld .

Thực phẩm và sản phẩm phóng xạ hàng ngày

Bạn tiếp xúc với phóng xạ mỗi ngày, thường là từ thực phẩm bạn ăn và các sản phẩm bạn dùng. Dưới đây là một số nguyên liệu thông thường hàng ngày có tính phóng xạ. Một số vật thể này có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe, nhưng hồ hết chúng là một phần vô hại trong môi trường hàng ngày của bạn.

Trong hầu hết các trường hợp, bạn sẽ tiếp xúc nhiều hơn với bức xạ nếu bạn đi tàu bay hoặc chụp X-quang nha khoa. Tuy nhiên, thật tốt khi biết các nguồn mà bạn phơi nhiễm.

Quả hạch brazil

Nếu có một giải thưởng cho “Thực phẩm phóng xạ nhất”, nó sẽ thuộc về các loại hạt Brazil. Các loại hạt Brazil chứa hàm lượng cao của hai nguyên tố phóng xạ: radium và kali. Kali tốt cho bạn, được sử dụng trong nhiều phản ứng sinh hóa, và là một trong những lý do khiến cơ thể con người tự phóng xạ nhẹ.

Radium xuất hiện trong lòng đất nơi cây mọc và được hệ thống rễ của cây tiếp nhận. Các loại hạt Brazil phát ra hơn 6.600 pCi / kg phóng xạ. hồ hết các bức xạ đó đi vô hại qua cơ thể. Trong khi đó, hàm lượng selen có lợi cho sức khỏe và các khoáng vật khác làm cho các loại hạt này rất tốt để ăn ở mức độ vừa phải.

Đậu Lima

Đậu Lima có nhiều kali-40 phóng xạ và radon-226. Dự kiến bạn ​​sẽ nhận được 2 đến 5 pCi / kg từ radon-226 và 4.640 pCi / kg từ kali-40. Bạn không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ radon, nhưng kali là một khoáng vật tẩm bổ. Đậu Lima cũng là một nguồn chất sắt (không phóng xạ) tốt.

Chuối

Chuối có nhiều kali thiên nhiên. Kali là hỗn tạp của các đồng vị, bao gồm đồng vị phóng xạ kali-40, bởi vậy chuối có tính phóng xạ nhẹ. Chuối trung bình phát ra khoảng 14 phân rã mỗi giây và chứa khoảng 450 mg kali. Đó không phải là điều bạn cần lo lắng trừ khi bạn đang kéo một bó chuối qua biên cương quốc tế.

Chuối đủ phóng xạ để chúng có thể đặt báo động bức xạ tại các cảng và sân bay. Chúng cung cấp 1 pCi / kg từ radon-226 và 3.520 pCi / kg từ kali-40. Hàm lượng kali cao là một phần lý do tại sao chuối rất bồi dưỡng. Bạn thu nạp bức xạ, nhưng nó không có hại.

Cà rốt

Cà rốt cung cấp cho bạn một pico-Curie hoặc hai bức xạ mỗi kg từ radon-226 và khoảng 3.400 pCi / kg từ kali-40. Các loại rau củ cũng có nhiều chất chống oxy hóa bảo vệ.

Những quả khoai tây

Cũng như cà rốt, khoai tây trắng cung cấp từ 1 đến 2,5 pCi / kg radon-226 và 3.400 pCi / kg kali-40. Thực phẩm làm từ khoai tây, chẳng hạn như khoai tây chiên, hao hao hơi phóng xạ.

Muối natri thấp

Natri thấp hoặc muối lite chứa kali clorua, KCl. Bạn sẽ nhận được khoảng 3.000 pCi / kg mỗi khẩu phần. Muối không natri chứa nhiều kali clorua hơn muối natri thấp và do đó có tính phóng xạ cao hơn.

Thịt đỏ

Thịt đỏ chứa lượng kali đáng kể, và do đó kali-40. Bít tết hoặc burger của bạn phát sáng theo nhạc điệu khoảng 3.000 pCi / kg. Thịt cũng giàu protein và sắt. Lượng chất béo bão hòa cao trong thịt đỏ có nhiều nguy cơ đối với sức khỏe hơn chừng độ phóng xạ.

Bia

Bia lấy phóng xạ từ kali-40. dự định ​​sẽ nhận được khoảng 390 pCi / kg. Đó chỉ là khoảng một phần mười bức xạ mà bạn nhận được từ cùng một lượng nước ép cà rốt, bởi thế từ ý kiến bức xạ, bạn có thể nói chúng là lành mạnh hơn?

Nước uống

Nước uống không phải là H 2 O tinh khiết. Liều bức xạ của bạn đổi thay tùy theo nguồn nước, trung bình, dự định ​​sẽ thu được khoảng 0,17 pCi / gram từ radium-226.

Bơ đậu phộng

Bơ đậu phộng phóng thích 0,12 pCi / gram phóng xạ từ kali phóng xạ-40, radium-226 và radium-228. Nó cũng giàu protein và là một nguồn chất béo không bão hòa đơn lành mạnh, vì thế đừng để số lượng radium nhỏ làm bạn sợ.



Kitty Litter

Kitty Litter hay bệ xí của mèo đủ phóng xạ để nó có thể đặt cảnh báo bức xạ tại các trạm kiểm soát biên cương quốc tế. Trên thực tiễn, đó không phải là tất tật những bê xí mèo mà bạn cần phải lo âu – chỉ những thứ được làm từ đất sét hoặc bentonite.

Đồng vị phóng xạ xuất hiện tự nhiên trong đất sét với tốc độ khoảng 4 pCi / g đối với đồng vị urani, 3 pCi / g đối với đồng vị thorium và 8 pCi / g kali-40. Một nhà nghiên cứu tại Đại học Oak Ridge đã từng xem người tiêu dùng Mỹ mua 50.000 pound uranium và 120.000 pound thorium dưới dạng bệ xí mèo mỗi năm.

Điều này không gây nguy hiểm nhiều cho mèo hoặc chủ nuôi của chúng. Tuy nhiên, đã có một sự giải phóng đáng kể các hạt nhân phóng xạ dưới dạng chất thải vật nuôi, từ những con mèo đang điều trị ung thư bằng đồng vị phóng xạ. Cung cấp cho bạn một cái gì đó để suy nghĩ, phải không?

Đầu báo khói

Khoảng 80% máy dò khói tiêu chuẩn có chứa một lượng nhỏ chất đồng vị phóng xạ Americaium-241, phát ra hạt alpha và bức xạ beta. Americium-242 có chu kỳ bán rã 432 năm, nên chi nó sẽ không đi đâu cả.

Đồng vị được đặt trong máy dò khói và không gây rủi ro thực sự cho bạn trừ khi bạn tách rời máy dò khói và ăn hoặc hít phải nguồn phóng xạ. Một mối quan hoài quan yếu hơn là việc xử lý các thiết bị phát hiện khói vì americium tích tụ trong các bãi chôn lấp hoặc bất cứ nơi nào máy dò khói bị loại bỏ.

Đèn huỳnh quang

Bộ phát động đèn của một số đèn huỳnh quang chứa một bóng đèn thủy tinh hình trụ nhỏ chứa ít hơn 15 nano krypton-85, một máy phát beta và gamma có chu kỳ bán rã 10,4 năm. Đồng vị p hóng xạ không phải là vấn đề đáng lo ngại trừ khi bóng đèn bị vỡ. Thậm chí sau đó, độc tính của các hóa chất kì dị lớn hơn bất kỳ rủi ro nào từ phóng xạ.

Đá quý

Một số đá quý, chẳng hạn như zircon, là chất phóng xạ thiên nhiên. ngoại giả, một số đá quý có thể được chiếu xạ bằng neutron để tăng cường màu sắc của chúng. thí dụ về các loại đá quý có thể được tăng cường màu sắc bao gồm beryl, tourmaline và topaz. Một số xoàn nhân tạo được làm từ oxit kim loại. Một tỉ dụ là oxit yttrium ổn định với oxit thorium phóng xạ.

mặc dầu hầu hết các mặt hàng trong danh sách này hầu như chơi quan tâm đến việc bạn bị phơi nhiễm ở đâu, một số loại đá quý được xử lý bằng bức xạ vẫn giữ được độ “tỏa sáng” đủ nóng để điều chỉnh 0,2 milliroentgens mỗi giờ. Ngoài ra, bạn có thể đeo đá quý gần da trong một thời gian dài.

Gốm

Bạn sử dụng gốm sứ mỗi ngày. Ngay cả khi bạn không dùng đồ đá phóng xạ cũ (như Fiesta Ware có màu sắc nhãi con ), rất có thể bạn có một số đồ gốm phát ra phóng xạ.

Ví dụ, bạn có một nắp hoặc veneer trên răng của bạn? Một số răng sứ đã được tô màu nhân tạo với uranium chứa oxit kim loại làm cho chúng trắng hơn và phản ảnh hơn. Công việc nha khoa có thể làm miệng của bạn phơi nhiễm tới 1000 millirem mỗi năm trên mỗi nắp, nghĩa là gấp hai lần rưỡi so với mức làng nhàng hàng năm của tất tật thân từ các nguồn tự nhiên, cộng với một vài tia X y tế.

Bất cứ thứ gì làm bằng đá có thể bị nhiễm phóng xạ. tỉ dụ, gạch và mặt đá granite có tính phóng xạ nhẹ. Bê tông cũng vậy. Tầng hầm bê tông đặc biệt cao kể từ khi bạn thoát khí radon từ bê tông và thu khí phóng xạ, nặng hơn không khí và có thể tích tụ.

Những thủ phạm khác bao gồm kính nghệ thuật, đồ trang sức tráng men cloisonne và đồ gốm tráng men. Đồ gốm và đồ trang sức là mối quan hoài vì thực phẩm có tính axit có thể hòa tan một lượng nhỏ các yếu tố phóng xạ để bạn có thể ăn chúng. Đeo trang sức phóng xạ gần với da của bạn là tương tự, trong đó các axit trong da của bạn hòa tan các nguyên liệu, có thể được tiếp nhận hoặc vô tình ăn vào.

kim loại tái chế

bít tất chúng ta đều muốn giảm tác động đến môi trường. Tái chế là tốt, phải không? đương nhiên, miễn là bạn biết những gì bạn đang tái chế. kim khí phế liệu có thể được nhóm lại với nhau, điều này đã dẫn đến một số trường hợp huých (một số người sẽ nói là thất kinh) về kim loại phóng xạ được kết hợp vào các vật dụng thường ngày trong gia đình.

thí dụ, vào năm 2008, người ta đã tìm thấy một vắt phô mai phát ra gamma . Rõ ràng, phế liệu coban-60 đã tìm được đường vào kim khí được dùng để chế tạo lưới. Các bảng kim loại bị nhiễm coban-60 được tìm thấy tản mạn trên một số tiểu bang của nước Mỹ

Vật phẩm phát sáng

Bạn có thể không có đồng hồ hoặc đồng hồ quay số radium cũ, nhưng có một nhịp tốt bạn có một vật thể phát sáng tritium. Tritium là một đồng vị hydro phóng xạ. Tritium được dùng để tạo ra các điểm ngắm súng phát sáng, la bàn, mặt đồng hồ, chìa khóa chìa khóa và ánh sáng tự cung cấp.

Bạn có thể mua một mặt hàng mới, nhưng nó có thể bao gồm một số bộ phận cổ điển . dù rằng sơn dựa trên radium có thể không được dùng nữa, các bộ phận từ những mảnh cũ đã tìm thấy sự sống mới trong đồ trang sức. Vấn đề ở đây là mặt bảo vệ của đồng hồ hoặc bất cứ thứ gì bị loại bỏ, cho phép sơn phóng xạ bong ra hoặc bong ra. Điều này có thể dẫn đến một xúc tiếp tình cờ.

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu co ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ đến hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco Sciencefocus .

Hóa học của tã lót dùng một lần

chốc là một nhu yếu phẩm thiết yếu cho mọi người đặc biệt là cho các mẹ bỉm sữa. Theo số liệu thống kê không chính thức thì năm nghìn là số lần thay tã mà đứa trẻ nhàng nhàng sẽ cần. Trên thị trường có rất nhiều lựa chọn khác nhau dành cho các bậc ba má, nhưng khi dùng một lần chiếm phần lớn trong số đó.

Tuy nhiên có một lượng hóa chất tương đối đằng sau để giữ cho các em bé khô ráo. bởi thế trong bài viết này, blog sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hóa học đằng sau hồi hương dùng một lần nhé!

Đôi nét

buổi dùng một lần hay còn được gọi là tã giấy được dùng cho trẻ lọt lòng và trẻ nhỏ. Chúng gồm lớp phủ ngoài, lớp thấm hút, phụ gia hóa học và vật liệu phân hủy sinh học. Tã dùng một lần được đánh giá có khả năng thấm hút hơn hẳn và dùng phổ thông hơn tã vải .

Thành phần cấu tạo

Khác với tã vải, tã dùng một lần có cấu tạo gồm 04 thành phần, cụ thể:

  • Lớp phủ ngoài của tã giấy là miếng vải được phủ plastic giúp giữ chất ẩm của lớp lót. Một số sản phẩm cùng loại có thêm chuỗi đàn hồi dệt xung quanh chân tã nhằm hạn chế sự rò rỉ.
  • Lớp thấm hút gồm có cotton và giấy bên trong được chèn thêm các tinh thể siêu thấm.
  • Phụ gia hóa học là các chất hóa học tạo mùi thơm dễ chịu và tạo độ bền cho tã.
  • vật liệu phân hủy sinh học giúp tã giấy sau khi bỏ đi sẽ phân hủy thành phân ủ làm bằng nguyên liệu tái sinh. Chúng có mặt ở bộ phận viền thun chống trào, màng bề mặt và đáy chống thấm ở thân tã.

Hóa học đằng sau

Một số polymer khác nhau tạo nên chốc dùng một lần. Polymer là các phân tử chuỗi dài được hình thành từ nhiều họa tiết nhỏ, lặp đi lặp lại – về cơ bản là các kết liên trong chuỗi. Có chí ít năm polymer khác nhau trong tã dùng một lần làng nhàng của bạn, mỗi loại phục vụ một mục đích hơi khác nhau.

Các hồi được hình thành từ nhiều lớp khác nhau. Tấm trên cùng, gần nhất với da của em bé, thường được làm bằng polypropene. Một số thương hiệu cũng có một lớp kem dưỡng da mỏng trên tấm trên cùng để bảo vệ làn da của em bé. Lớp tã này cho phép nước đái của em bé đi qua và vào các lớp tã tiếp theo bên dưới.

Lớp bên dưới tấm trên cùng là lớp hấp thu. Lớp này thường bao gồm bông và polyester và hút nước giải, chuyển di nó ra khỏi da em bé. Bông hấp thụ tới 27 lần trọng lượng của nó trong nước. Muối và các hợp chất khác trong nước đái làm giảm lượng mà nó thu nhận so với con số này, nhưng nó vẫn làm rất tốt việc ngâm nó. Tuy nhiên, bản thân nó sẽ không còn giữ lâu nữa trước khi tã của bé bắt đầu bị rò rỉ.

Đó là nơi mà lớp tiếp theo của chúng ta xuất hiện. Lớp thấm bên dưới lớp tiếp nhận cũng chứa một số bông nhưng cũng chứa một loại polymer khác: natri polyacryit. Đây là một loại polymer siêu hấp phụ, có khả năng thu nạp một lượng lớn gấp 800 lần trọng lượng của chính nó trong nước cất.

Cũng như bông, lượng nước giải nó có thể hấp thu bị giảm bởi các hợp chất khác có trong nước đái. mặc dầu vậy, nó vẫn quản lý một trọng lượng khá ấn tượng gấp 30 lần trọng lượng của chính nó. Khi nó thu nhận nước đái, nó tạo thành một loại gel, ngăn ngừa ẩm ướt bên trong tã.

trung bình một em bé sáu tháng tuổi sinh sản khoảng 15 gram nước tiểu mỗi giờ. Hầu hết các loại tã chỉ chứa khoảng 2 – 4 gram natri polyacryit, nhưng chất này cùng với bông thấm, đủ để hấp thụ nước tiểu trong vài giờ, giữ cho trẻ khô ráo suốt đêm.

Lớp tã lót dùng một lần rút cục là tấm lót chống nước. Thường được cấu tạo từ polypropene và polyethene, lớp này ngăn chặn sự ẩm ướt có trong tã không chuyển sang khăn trải giường hoặc xống áo của em bé.

Trong những năm gần đây, bề mặt bên ngoài của một số lát cho trẻ nhỏ đã bao gồm thêm một ‘chất chỉ thị ẩm thấp’. Điều này thường ở dạng màu, nó thay đổi màu sắc khi bên trong của tã bị ướt, cho cha mẹ biết khi nào cần thay tã.

Theo tìm hiểu thì nhiều hồi hương có chứa chất chỉ thị ẩm chừng như dùng một hóa chất gọi là bromophenol blue. Bromophenol blue là một chỉ thị pH – nghĩa là, nó thay đổi màu sắc tùy thuộc vào độ axit hoặc độ kiềm xung quanh.

Trong chốc, bromophenol blue xuất hiện màu vàng khi tã khô, nhưng độ pH hơi kiềm của nước đái làm cho màu của nó chuyển sang màu xanh khi tã ướt. Các bằng sáng chế khác cho thấy một số buổi khác sử dụng các hóa chất nhạy cảm với độ ẩm làm chỉ thị, mặc dù không rõ các hợp chất này gây ra sự đổi thay màu sắc xuất hiện như thế nào.

Câu chuyện…

Như đã đề cập về hóa học đằng sau nhát ở trên và đã đến lúc chúng ta nên bàn thảo về những gì xảy ra với chúng sau khi sử dụng. Con số 5000 tã đó là cho mỗi đứa trẻ cộng lại – chỉ riêng ở Anh, chúng chiếm 2-3% tổng số rác thải sinh hoạt. Và người ta ước tinh rằng một cái tã dùng một lần mất khoảng 450 năm để phân hủy hoàn toàn trong bãi rác.

Vào năm 2008, Cơ quan Môi trường của Vương quốc Anh đã ước lượng rằng, theo thời gian, một đứa trẻ mặc tã thường ngày, những thứ có thể tạo ra 550kg khí thải carbon duyệt y việc sản xuất, phân phối và thải bỏ chúng.

Do tác động môi trường tiềm ẩn này, việc chuyển sang dùng nhút nhát có thể tái sử dụng có vẻ như thường có trí tuệ. Tuy nhiên, cùng một nghiên cứu cảnh báo rằng có tính đến các tác động của việc giặt lúc có thể tái dùng, tác động phát thải carbon của chúng tương đương với các loại chập dùng một lần.

Điều này dựa trên một vài giả định và nghiên cứu đã xác định rằng sấy không khí thay vì sấy khô, tái sử dụng lót với đứa con thứ hai và một số yếu tố khác có thể làm giảm tác động của việc tái dùng. Đó cũng là trường hợp tái sử dụng không tạo ra cùng một khối lượng chất thải mà lát dùng một lần.

Bất kể cuộc tranh cãi về ích lợi của việc tái sử dụng so với việc sử dụng, lát dùng một lần vẫn là phổ biến hơn của cả hai. Để thử và chống lại lượng chất thải được gửi đến bãi rác, một số công ty đã bắt đầu nghiên cứu làm thế nào các nguyên liệu trong buổi đã qua sử dụng có thể được tái chế.

Một nhà máy như vậy gần Venice ở Ý nhằm biến nhựa từ hồi hương thành nắp chai và áo quần. Nếu sự nồng nhiệt đối với hồi hương dùng một lần vẫn tiếp, có nhẽ đây là câu đáp cho vấn đề hoang phí mà họ đặt ra – mặc dầu nó sẽ cần phải được thực hành ở quy mô lớn hơn trên toàn thế giới.

Bài viết đến đây là hết rồi. nhìn sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo EA , Danhgiacuatui , Compound Interest , Ariel Shramko Pampers .

Những hóa chất bạn đừng bao giờ trộn với nhau

Một số hóa chất gia dụng thường ngày không bao giờ nên được trộn lẫn. Chúng có thể phản ứng để tạo ra một hợp chất độc hại hoặc gây chết người hoặc chúng có thể gây ra hậu quả không mong muốn. Sau đây là những gì bạn cần biết để phòng tránh nhé!

Chất tẩy trắng + Amoniac = Hơi độc clo

Chất tẩy trắng và amoniac là hai chất gột rửa gia dụng phổ quát không bao giờ nên trộn lẫn. Chúng phản ứng với nhau tạo thành hơi chloramine độc ​​hại và có thể dẫn đến việc sinh sản hydrazine độc.

Những gì nó làm: Chloramine đốt cháy mắt và hệ hô hấp của bạn và có thể dẫn đến tổn thương nội tạng. Nếu có đủ amoniac trong hỗn hợp, hydrazine có thể được sản xuất. Hydrazine không chỉ độc hại mà còn có khả năng gây nổ. Kịch bản trường hợp tốt nhất là sự khó chịu; trường hợp xấu nhất là cái chết.

Hóa chất tạo ra :

Lưu ý rằng mỗi loại hóa chất này đều độc hại, ngoại trừ nước và muối :

  • NH 3 = amoniac
  • HCl = axit clohydric
  • NaOCl = sodium hypochlorite (thuốc tẩy)
  • Cl = clo
  • Cl 2 = khí clo
  • NH 2 Cl = chloramine
  • N 2 H 4 = hydrazin
  • NaCl = natri clorua hoặc muối
  • H 2 O = nước

P hản ứng hóa học có khả năng :

Chất tẩy trắng phân hủy tạo thành axit hydrochloric, phản ứng với amoniac tạo thành khói chloramine độc ​​hại.

trước nhất, các dạng axit clohydric.

NaOCl → NaOH + HOCl

HOCl → HCl + O

Tiếp theo, khí amoniac và clo phản ứng tạo thành chloramine, được phóng thích dưới dạng hơi.

NaOCl + 2HCl → Cl 2 + NaCl + H 2 O

2NH 3 + Cl 2 → 2NH 2 Cl

Nếu amoniac hiện diện quá mức (có thể có hoặc không, tùy thuộc vào hỗn tạp của bạn), hydrazine lỏng độc hại và có khả năng gây nổ có thể hình thành. mặc dầu hydrazine không thuần khiết có khuynh hướng không nổ, nhưng nó có khả năng đun sôi và phun chất lỏng nóng, độc hóa học.

2NH 3 + NaOCl → N 2 H 4 + NaCl + H 2 O

Sơ cứu khi xúc tiếp :

Nếu bạn xúc tiếp với khói từ hổ lốn thuốc tẩy và amoniac, hãy ngay lập tức đưa mình ra khỏi khu vực để có không khí trong sạch và dạo sự trông nom y tế khẩn. Trong khi hơi có thể tiến công mắt và màng nhầy của bạn, mối đe dọa lớn nhất bắt nguồn từ việc hít phải khí.

  1. Tránh xa nơi trộn hóa chất. Bạn không thể gọi giúp đỡ nếu bạn bị choáng ngợp bởi khói.
  2. Gọi 115 để được trợ giúp khẩn.
  3. Nếu bạn thấy ai đó xỉu mà bạn tin là đang hít phải hợp chất tẩy / amoniac, hãy nuốm đưa người đó ra không khí trong sạch, tốt nhất là ở ngoài trời. Gọi 115 để được hỗ trợ khẩn cấp.
  4. khoảng hướng dẫn thu vén và xử lý hợp. Một sai lầm như vậy rất có thể được thực hiện trong phòng tắm hoặc nhà bếp, bởi vậy hãy thông gió kỹ khu vực trước khi quay trở lại để xử lý các hợp chất và bắt đầu quét dọn.

Thuốc tẩy + Rượu xát = Chất độc cloroform

Natri hypochlorite trong chất tẩy gia dụng phản ứng với ethanol hoặc isopropanol trong rượu để tạo ra chloroform (CHCl 3 ), axit chlohydric (HCl). Ngoài ra còn các hợp chất khó chịu khác có thể được sản xuất bao gồm chloroacetone, dichloroacetone và axit hydrochloric.

Những gì nó làm: Thở đủ chloroform sẽ đánh bật bạn ra, điều này sẽ khiến bạn không thể di chuyển đến không khí trong lành. Hít thở quá nhiều có thể giết chết bạn. Axit chlohydric có thể cung cấp cho bạn một vết bỏng hóa học. Các hóa chất có thể gây thương tổn nội tạng và dẫn đến ung thư và các bệnh khác sau này trong cuộc sống.

Loại bỏ hỗn hợp thuốc tẩy và rượu :

Nếu bạn vô tình trộn các hóa chất này và cần xử lý chất thải, đừng thay trung hòa nó. trước nhất, hãy thận trọng và không đi vào khu vực bị ô nhiễm nếu bạn ngửi thấy mùi chloroform, có mùi nặng, có mùi ngọt. Khi mùi bắt đầu tan, pha loãng hỗn hợp với một lượng nước lớn và rửa nó xuống cống càng nhanh càng tốt.

Acetone và thuốc tẩy:

Mặc dù đây là một hẩu lốn ít phổ thông hơn, nhưng không trộn lẫn acetone và thuốc tẩy, vì phản ứng này cũng tạo ra chloroform:

3NaClO + C 3 H 6 O → CHCl 3 + 2NaOH + NaOCOCH 3

chung cuộc, trộn thuốc tẩy với bất kỳ hóa chất nào trừ nước là một ý tưởng cực kỳ tệ. Chất tẩy trắng phản ứng với giấm , amoniac và hầu hết các chất gột rửa gia dụng để tạo ra khói độc.

Chất tẩy trắng + Giấm = Khí clo độc hại

Bạn có nhận thấy một chủ đề phổ biến ở đây? Chất tẩy trắng là một hóa chất phản ứng cao không nên trộn lẫn với các chất tẩy rửa khác. Một số người trộn thuốc tẩy và giấm để tăng khả năng làm sạch của hóa chất. Đó không phải là một ý tưởng tốt vày phản ứng tạo ra khí clo. Phản ứng không giới hạn ở giấm (axit axetic yếu). Tránh trộn các axit gia dụng khác với thuốc tẩy, chả hạn như nước chanh hoặc một số chất gột rửa bồn cầu.

Nó làm gì: Khí clo đã được dùng như một tác nhân chiến tranh hóa học, nên nó không phải là thứ bạn muốn sản xuất và hít vào trong nhà của bạn. Clo tiến công da, niêm mạc và hệ hô hấp. Tốt nhất, nó sẽ khiến bạn ho và kích thích mắt, mũi và miệng. Nó có thể khiến bạn bị bỏng hóa chất và có thể gây tử vong nếu bạn tiếp xúc với nồng độ cao hoặc không thể tiếp cận với không khí trong sạch.

Điều gì xảy ra khi thuốc tẩy và giấm được trộn lẫn?

Thuốc tẩy clo có chứa sodium hypochlorite hoặc NaOCl. Vì chất tẩy trắng là natri hypochlorite hòa tan trong nước, natri hypochlorite trong chất tẩy thực thụ tồn tại dưới dạng axit hypochlorous:

NaOCl + H 2 O ↔ HOCl + Na + + OH

Hypochlorous acid là một chất oxy hóa mạnh. Đây là những gì làm cho nó rất tốt trong việc tẩy trắng và sát trùng. Nếu bạn trộn thuốc tẩy với axit, khí clo sẽ được tạo ra. Ví dụ, trộn chất tẩy với chất tẩy rửa bồn cầu, có chứa axit hydrochloric, tạo ra khí clo:

HOCl + HCl ↔ H O + Cl 2

Mặc dù khí clo tinh khiết có màu vàng lục, khí được tạo ra bằng cách trộn hóa chất được pha loãng trong không khí. Điều này làm cho nó vô hình, thành ra cách duy nhất để biết nó là bởi mùi và tác động bị động. Khí clo tiến công các màng nhầy ở mắt, cổ họng và phổi. Các cuộc tiến công này có thể gây tử vong. Trộn thuốc tẩy với một loại axit khác, chẳng hạn như axit axetic có trong giấm, mang lại kết quả căn bản giống nhau:

2HOCl + 2HAc ↔ Cl 2 + 2H 2 O + 2Ac (Ac: CH 3 COO)

Có một trạng thái cân bằng giữa các loài clo chịu ảnh hưởng của pH. Khi độ pH được hạ xuống, vì khi thêm chất tẩy rửa bồn cầu hoặc giấm, tỷ lệ khí clo được tăng lên. Khi độ pH được nâng lên, tỷ lệ ion hypochlorite được tăng lên. Hypochlorite ion là chất oxy hóa kém hiệu quả hơn axit hypochlorous, cho nên một số người sẽ cố tình hạ thấp độ pH của chất tẩy để tăng khả năng oxy hóa của hóa chất dù rằng kết quả là khí clo được tạo ra.

Thay vào đó, bạn nên làm gì?

Đừng tự đầu độc! Thay vì tăng hoạt động của thuốc tẩy bằng cách thêm giấm vào nó, sẽ an toàn và hiệu quả hơn khi chỉ cần mua thuốc tẩy tươi. Thuốc tẩy clo có hạn sử dụng, do đó nó mất điện theo thời gian.

Điều này đặc biệt đúng nếu thùng chứa chất tẩy đã được lưu trữ trong vài tháng. sử dụng thuốc tẩy tươi an toàn hơn nhiều so với nguy cơ ngộ độc bằng cách trộn thuốc tẩy với hóa chất khác. Bạn có thể sử dụng riêng thuốc tẩy và giấm để làm sạch miễn là bề mặt được rửa sạch giữa các sản phẩm.

Giấm + Peroxide = Axit Peracetic

Bạn có thể bị cám dỗ trộn hóa chất để tạo ra một sản phẩm mạnh hơn, nhưng sản phẩm tẩy rửa là chọn lựa tồi nhất để chơi hóa học tại nhà! Giấm (axit axetic yếu) phối hợp với hydro peroxide để tạo ra axit peracetic. Hóa chất thu được là một chất khử trùng mạnh hơn, nhưng nó cũng ăn mòn, cho nên bạn biến hóa chất gia dụng tương đối an toàn thành một chất nguy hiểm.

Nó có tác dụng gì: Axit peracetic có thể gây kích ứng mắt và mũi của bạn và có thể khiến bạn bị bỏng hóa chất.

Peroxide + Thuốc nhuộm tóc Henna = Cơn ác mộng cho tóc

Phản ứng hóa học khó chịu này rất có thể gặp phải nếu bạn nhuộm tóc ở nhà. Gói thuốc nhuộm tóc hóa học cảnh báo bạn không nên sử dụng sản phẩm nếu bạn đã nhuộm tóc bằng thuốc nhuộm tóc henna. rưa rứa, màu tóc henna cảnh báo bạn không sử dụng thuốc nhuộm thương nghiệp. Tại sao cảnh báo?

Các sản phẩm henna khác với màu đỏ có chứa muối kim loại, không chỉ là chất thực vật. kim khí phản ứng với hydro peroxide trong các màu tóc khác trong phản ứng tỏa nhiệt có thể gây ra phản ứng da, đốt cháy bạn, làm tóc bạn rụng và tạo ra màu sắc đáng sợ không thể đoán trước trên tóc.

Nó có tác dụng gì: Peroxide loại bỏ màu hiện có trên tóc của bạn, vì vậy việc thêm màu mới sẽ dễ dàng hơn. Khi nó phản ứng với muối kim khí (không thường thấy trong tóc), nó sẽ oxy hóa chúng. Điều này làm hỏng sắc tố từ thuốc nhuộm henna và làm một số trên tóc của bạn. Kịch bản hay nhất? Tóc khô, hư tổn, có màu kỳ lạ. Trường hợp xấu nhất? Chào mừng đến với thế giới rộng lớn tuyệt trần của tóc giả.

Baking Soda + Giấm = đẵn là nước

Trong khi các hóa chất trước đó trong danh sách kết hợp để tạo ra một sản phẩm độc hại, việc trộn baking soda và giấm mang lại cho bạn một cách không hiệu quả. Ồ, sự phối hợp thật ráo nếu bạn muốn tạo ra khí carbon dioxide cho một ngọn núi lửa hóa học , nhưng phủ nhận những ráng của bạn nếu bạn có ý định sử dụng các hóa chất để làm sạch.

Những gì nó làm: Baking soda (natri bicarbonate) phản ứng với giấm (axit axetic yếu) để tạo ra khí carbon dioxide, natri acetate và Chủ yếu là nước. Đó là một phản ứng đáng giá nếu bạn muốn làm đá nóng . Trừ khi bạn đang trộn hóa chất cho một dự án khoa học thì đừng bận tâm.

AHA / Glycolic Acid + Retinol = Lãng phí $$$

Các sản phẩm coi ngó da thực sự có tác dụng làm giảm sự xuất hiện của nếp nhăn và nếp nhăn bao gồm axit alpha-hydroxy (AHA), axit glycolic và retinol. Những sản phẩm này sẽ không làm da bạn nhăn. Trên thực tiễn, các axit làm giảm hiệu quả của retinol.

Những gì nó làm: Các sản phẩm chăm nom da hoạt động tốt nhất ở một chừng độ axit hoặc độ pH một mực. Khi bạn trộn sản phẩm, bạn có thể thay đổi độ pH, làm cho chế độ săn sóc da đắt tiền của bạn trở thành vô nghĩa. Kịch bản hay nhất? AHA và axit glycolic làm tẩy da chết, nhưng bạn không nhận được tiếng nổ từ retinol. Trường hợp xấu nhất? Bạn nhận được thêm kích ứng da và nhạy cảm, cộng với bạn vung phí tiền nong.

Bạn có thể sử dụng hai bộ sản phẩm, nhưng bạn cần cho phép thời kì để một sản phẩm được thu nhận hoàn toàn trước khi ứng dụng bộ kia. Một chọn lọc khác là thay thế loại bạn sử dụng.

Trên đây là những điều thích thú về những hóa chất gia dụng bạn đừng nên trộn chúng với nhau. dòm sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco .

Tại sao lửa nóng?

Trong cuộc sống này, chúng ta luôn tự hỏi vì sao lại như thế này, tại sao lại như thế kia vì trí tò mò vốn có của con người. Và đương nhiên trong hàng vạn câu hỏi vì sao đó thì câu hỏi “tại sao lửa lại nóng?” là một trong những câu hỏi nguyên sơ nhất từ khi xuất hiện sự sống trên trái đất. Vì thế, trong bài biết này chúng ta sẽ tìm hiểu xem đâu là lý do thật sự để trà lời cho câu hỏi này nhé!

Đôi nét

Lửa nóng vì năng lượng nhiệt (trong trường hợp này là nhiệt) được phóng thích khi kết liên hóa học bị phá vỡ và hình thành trong phản ứng đốt cháy. Đốt cháy biến nhiên liệu và oxy thành carbon dioxide và nước. Năng lượng thật sự cần thiết để bắt đầu phản ứng, phá vỡ kết liên trong nhiên liệu và giữa các nguyên tử oxy, nhưng nhiều năng lượng được phóng thích khi các nguyên tử liên kết với nhau thành carbon dioxide và nước.

Nhiên liệu + Oxy + Năng lượng → Carbon Dioxide + Nước + Năng lượng nhiều hơn

Cả ánh sáng và nhiệt đều được giải phóng dưới dạng năng lượng. Ngọn lửa là bằng chứng hữu hình của năng lượng này. Ngọn lửa bao gồm cốt tử là khí nóng.

Than hồng phát sáng vì vật chất này đủ nóng để phát ra ánh sáng sợi đốt (giống như đầu đốt bếp), trong khi ngọn lửa phát ra ánh sáng từ các khí bị ion hóa (như bóng đèn huỳnh quang). Ánh sáng lò sưởi là một dấu hiệu rõ ràng của phản ứng đốt cháy, nhưng năng lượng nhiệt (nhiệt) cũng có thể là vô hình.

Tóm lại: Lửa nóng vì năng lượng dự trữ trong nhiên liệu được giải phóng đột ngột. Năng lượng cấp thiết để bắt đầu phản ứng hóa học ít hơn nhiều so với năng lượng được phóng thích.

Điều chủ chốt: vì sao lửa nóng?

  • Lửa luôn nóng, bất kể nhiên liệu được dùng.
  • mặc dầu quá trình đốt cháy đòi hỏi năng lượng kích hoạt (đánh lửa), nhiệt lượng tỏa ra vượt quá năng lượng cần thiết.
  • Phá vỡ kết liên hóa học giữa các phân tử oxy sẽ tiếp thụ năng lượng, nhưng quá trình hình thành kết liên hóa học cho các sản phẩm (carbon dioxide và nước) giải phóng nhiều năng lượng hơn.

Lửa nóng như thế nào?

Không có nhiệt độ duy nhất cho lửa vì lượng năng lượng nhiệt được phóng thích phụ thuộc vào một số nhân tố, bao gồm thành phần hóa học của nhiên liệu, lượng oxy có sẵn và phần ngọn lửa được đo.

Một đám cháy gỗ có thể vượt quá 1100°C, nhưng các loại gỗ khác nhau bị đốt cháy ở nhiệt độ khác nhau. thí dụ, gỗ thông tạo ra nhiệt lượng gấp hơn hai lần so với linh sam hoặc liễu và gỗ khô cháy nóng hơn gỗ xanh. Propan trong không khí cháy ở nhiệt độ tương đương (1980°C), nhưng oxy cháy nóng hơn nhiều (2820°C). Các nhiên liệu khác như acetylene trong oxy (3100°C) đốt nóng hơn bất kỳ loại gỗ nào.

Màu của lửa là một thước đo sơ bộ về độ nóng của nó. Lửa đỏ sâu ở khoảng 600-800°C, vàng cam ở khoảng 1100°C, và ngọn lửa trắng vẫn nóng hơn, động dao từ 1300-1500°C. Một ngọn lửa màu xanh là ngọn lửa nóng nhất trong vơ, nghiêng ngả từ 1400-1650°C. Ngọn lửa khí màu xanh của đầu đốt Bunsen nóng hơn nhiều so với ngọn lửa màu vàng từ một cây nến sáp!

Phần nóng nhất của ngọn lửa

Phần nóng nhất của ngọn lửa là điểm cháy tối đa, là phần màu xanh của ngọn lửa (nếu ngọn lửa đốt nóng). Tuy nhiên, hồ hết các sinh viên thực hành các thí điểm khoa học được yêu cầu dùng đỉnh ngọn lửa. tại sao? Vì nhiệt tăng, nên đỉnh của ngọn lửa là điểm thu năng lượng tốt. Ngoài ra, hình nón của ngọn lửa có nhiệt độ khá thích hợp. Một cách khác để đánh giá vùng nhiệt độ cao nhất là tìm phần sáng nhất của ngọn lửa.

Ngọn lửa nóng nhất và huých nhất

Ngọn lửa nóng nhất từng được sản xuất là ở 4990°C. Ngọn lửa này được hình thành bằng cách dùng dicyanoacetylene làm nhiên liệu và ozone làm chất oxy hóa.

Cool fire (lửa mát – là những ngọn lửa có nhiệt độ cực đại dưới 400°C) cũng có thể được thực hiện. Ví dụ, một ngọn lửa khoảng 120°C có thể được hình thành bằng cách sử dụng hỗn hợp nhiên liệu không khí quy định. Tuy nhiên, do cool fire gần như thường qua điểm sôi của nước, loại lửa này khó duy trì và dễ dàng thoát ra ngoài.

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco Klaus Schmidt-Rohr .

Tổng quan về viên nén sủi bọt

Do có nhiều bạn hỏi tôi về chủ đề này nên bữa nay tôi xin san sẻ một bài viết khá căn bản về viên nén sủi bọt. Bạn hãy giành ít thời kì để tham khảo cũng như bổ sung thêm tri thức cho mình nhé! Ngoài ra, bạn có thể đọc thêm về hóa học của viên thuốc sủi bọt tại đây .

Đôi nét

Viên sủi là những chế phẩm viên nén không bao có chứa hổ lốn các dược liệu với các chất axit và cacbonat hoặc hydro cacbonat, phản ứng nhanh khi có nước để phóng thích carbon dioxide. Chúng là các dạng bào chế rắn được dự kiến hòa tan hoặc phân tán trong một cốc nước trước khi dùng.

Viên sủi có các đặc tính cụ thể cho phép tiếp thu nhanh và hòa tan thuốc dự kiến. Sự sẵn có của các dạng bào chế dựa trên công nghệ sủi bọt đã đạt được nhiều tầm quan trọng với công nghệ của Alka-Seltzer trong những năm 1930. Việc dùng rộng rãi các viên sủi đã đạt được do sự tiện lợi của chúng và cũng là sự dễ dàng để chúng có thể được tiêu thụ.

Bài viết này coi xét các nguyên tắc căn bản của viên sủi, phản ứng sủi bọt, tá dược được sử dụng trong viên sủi, kỹ thuật sản xuất, kiểm tra kiểm soát chất lượng cũng như các ưu điểm và nhược điểm của viên sủi.

Lịch sử

Theo Wikipedia thì vào thế kỷ 17 và 18, các nhà khoa học bắt đầu phát hiện ra các thành phần hóa học và lợi. sinh lý của các loại muối khác nhau như muối Glauber muối Epsom . Những muối này được tìm thấy trong suối khoáng, từ thời Đế chế La Mã, đã được dùng làm spa trông nom sức khỏe, nơi mọi người sẽ đi tắm và uống, khoáng vật – nước phong phú cho sức khỏe của họ.

Những phát triển này đã dẫn đến những vắt tái tạo các hổ lốn muối được tìm thấy trong các loại nước khoáng thiên nhiên này bằng cách sử dụng các thành phần có sẵn. Trộn các loại muối này – đặc biệt là cacbonat tartrates – với các hương liệu như chanh thành một hợp chất sủi bọt với axit citric hoặc tartaric tỏ ra đặc biệt phổ quát và tạo ra một cơn sốt cho “muối trái cây” mới. Viên sủi đã được sử dụng như là sản phẩm của ngành công nghiệp dược phẩm và chế độ ăn kiêng trong hơn hai thế kỷ.

Phản ứng sủi bọt

C6H8O7.H2O+3NaHCO3 (aq) → Na3C6H5O7 + 4H2O + 3CO2 (g) ↑

hay Axit citric + Natri bicarbonat → Natri citrate + Nước + Carbon dioxide

C4H6O6 + 2 NaHCO3→ Na2C4H4O6 + 2H2O + 2CO2 (g) ↑

hay Axit tartaric + Natri bicarbonat → Natri tartrate + Nước + Carbon dioxide

Cơ chế sủi bọt. Nguồn Robert E. Lee

Sủi bọt là sự phát triển của bọt khí (carbon dioxide) từ chất lỏng và là kết quả của phản ứng hóa học giữa axit và bazơ. Phản ứng tiến hành một cách tự nhiên khi các thành phần axit và cacbonat được trộn trong nước, ngay cả với một lượng rất nhỏ làm chất xúc tác. Vì nước là một trong những sản phẩm phản ứng, nó sẽ đẩy nhanh tốc độ phản ứng, dẫn đến khó ngăn chặn phản ứng.

Thuốc có công thức dưới dạng viên sủi

Các loại thuốc được bào chế dưới dạng liều sủi bao gồm:

a. Những người khó tiêu hóa hoặc gây rối loạn bao tử

Một thí dụ kinh điển là canxi cacbonat, dạng canxi được sử dụng rộng rãi nhất. Trong một viên thuốc hoặc bột thông thường, canxi cacbonat hòa tan trong axit bao tử và được đưa vào hệ thống tiêu hóa để kết nạp. Tuy nhiên, khi canxi cacbonat hòa tan, nó phóng thích carbon dioxide, dẫn đến khí dạ dày.

Mặt khác, khi mọi người già đi, họ có ít axit trong dạ dày và do đó, một viên canxi cacbonat có thể đi qua bao tử mà không tan. Điều đó, đến lượt nó, có thể dẫn đến táo bón. Tuy nhiên, nếu canxi cacbonat được uống trong công thức sủi bọt, canxi sẽ hòa tan trong nước và sẵn sàng cho thân thể hấp thu mà không có nguy cơ khí quá mức trong dạ dày hoặc táo bón.

b. Những người mẫn cảm với pH

Độ pH thấp trong bao tử có thể khiến các thành phần hoạt động (ví dụ, axit amin và kháng sinh) bị biến tính, mất hoạt động hoặc khiến chúng không hoạt động. Tuy nhiên, các thành phần sủi bọt có thể tạo đệm dung dịch hoạt động với nước để pH dạ dày tăng (trở thành ít axit hơn) và do đó ngăn chặn sự xuống cấp hoặc bất hoạt của hoạt chất.

Hiệu ứng đệm này (chuẩn y quá trình cacbon hóa) gây ra việc làm rỗng dạ dày nhanh chóng (thường trong vòng 20 phút) và thời kì tạm cư của thuốc trong dạ dày nên sẽ ngắn. Kết quả là sự thu nạp tối đa của các thành phần hoạt động.

c. Những người cần một liều lượng lớn

Thuốc cần liều lớn có thể được bào chế dưới dạng viên sủi. Một viên thuốc sủi bọt bình thường (đường kính 1 inch, nặng tổng cộng 5 gram) có thể bao gồm hơn 2.000 miligam hoạt chất tan trong nước trong một liều độc nhất. Nếu liều lượng đề nghị lớn hơn thế, dạng bột là một dụng cụ cung cấp phổ quát.

d. Những loại dễ bị ảnh hưởng bởi ánh sáng, oxy hoặc độ ẩm

Nhiều vitamin rơi vào loại này. Các công thức sủi bọt tiêu biểu có ít hơn 0,5 phần trăm độ ẩm tự do. Để duy trì mức đó và ngăn ngừa thiệt hại khác từ môi trường xung quanh, gói công thức phải là nhôm dày 0,001 inch, ngăn chặn hoàn toàn ánh sáng, oxy và độ ẩm.

Thành phần của viên sủi / tá dược

Ngoài các hoạt chất, viên sủi còn chứa:

1. Thành phần axit

a. Axit citric

Axit citric là một tinh thể mờ, không màu, mờ với vị axit mạnh. Nó là thành phần axit được dùng phổ quát nhất, rất dễ dàng và tương đối rẻ tiền. Axit citric tạo ra hương vị giống như cam quýt cho sản phẩm. Nó rất hòa tan trong nước và tan hòa tan trong ethanol.

Axit citric có sẵn trên thị trường ở dạng thực phẩm dạng hạt mịn, chảy tự do (free-flowing), khan và monohydrat. Nó rất hút ẩm. Phải đặc biệt cẩn thận để ngăn chặn sự xúc tiếp và lưu trữ của nó trong khu vực có độ ẩm cao, đặc biệt nếu nó được lấy ra khỏi thùng chứa ban sơ và không được đóng gói lại một cách hiệp.

b. Axit tartaric

Đây là một tinh thể không mùi, không màu, đơn sắc hoặc bột tinh thể màu trắng (gần như trắng) với hương vị cực kỳ chua. Nó được dùng trong nhiều chế phẩm sủi bọt, có sẵn trên thị trường.

Axit tartaric hòa tan hơn axit citric. Nó hòa tan trong ít hơn 1 phần nước và 1 trong 2,5 ethanol. Nó là một axit mạnh như axit citric, nhưng phải được sử dụng nhiều hơn để đạt được nồng độ axit tương đương vì nó là diprotic (có khả năng cho 2 proton H+), trong khi axit citric là triprotic (có khả năng cho 3 proton H+). Axit tartaric bị chảy ở độ ẩm tương đối trên 75%.

c. Axit ascorbic

Đây là một loại bột tinh thể không màu hoặc màu trắng đến màu vàng, không hút ẩm, không mùi, có vị axit mạnh. Nó tan hòa tan trong nước và ethanol nhưng dễ chuyển sang màu tối khi tiếp xúc với ánh sáng. Nó ít hút ẩm hơn axit citric hoặc tartaric.

d. Axit malic

Axit malic là một dạng bột hoặc hạt tinh thể màu trắng hoặc gần như trắng, có mùi nhẹ và vị axit mạnh. Nó hút ẩm và dễ hòa tan. Mặc dù độ bền axit của nó thấp hơn axit citric hoặc tartaric, axit malic cung cấp đủ độ sủi bọt khi kết hợp với nguồn cacbonat. Axit malic cũng có vị tart mịn, không gây khó chịu trong hương vị cũng như vị chua của axit citric.

e. Các nguồn thành phần axit khác

Các nguồn khác của các thành phần axit được dùng trong sản xuất viên sủi bao gồm axit fumaric, axit nicotinic, axit acetylsalicylic, axit succinic và adipic, axit anhydrid (ví dụ: axit glutaric anhydride, axit succinic anhydride, v.v.) , natri dihydrogen phosphate, muối axit citrat, vv).

2. Thành phần kiềm hay bazơ

a. Natri bicarbonate

Đây là nguồn kiềm được dùng rộng rãi nhất trong các sản phẩm sủi bọt. Nó là một loại bột tinh thể màu trắng, không mùi, có vị mặn, hơi kiềm. Natri bicarbonate có độ ẩm thấp (1% ở độ ẩm tương đối 80%), tạo ra khoảng 52% carbon dioxide theo trọng lượng và hòa tan trong nước (1 trong 11 phần ở 20 ° C) nhưng không hòa tan trong ethanol 96% ở 20°C.

Natri bicarbonate tạo ra một dung dịch rõ ràng sau khi phân rã viên và tạo thành cacbonat khi xử lý bằng nhiệt. Nó có sẵn trên thị trường với năm cấp cỡ hạt khác nhau, từ dạng bột mịn đến dạng hạt đồng nhất chảy tự do (free-flowing).

b. Kali citrat

Kali citrat rất hòa tan trong nước và gần như thường hòa tan trong rượu với vị rất mặn. Mỗi g kali citrat (monohydrate) bao gồm khoảng 9,3 mmol kali và 3,08 mmol citrate.

Chúng được dùng để thay thế natri bicarbonate trong điều trị nhiễm toan chuyển hóa ở bệnh nhân, chất kiềm hóa nước tiểu và giảm triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu nhẹ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó có hiệu quả trong việc giảm sự hình thành sỏi thận oxalate và urate và ngăn ngừa mất xương. nên chi, các nghiên cứu cho thấy rằng bổ sung kali bằng đường uống ngăn ngừa tăng kali máu từ nó do sự tiếp nhận cao từ đường tiêu hóa nhưng chậm.

c. Các nguồn thành phần kiềm khác

Các nguồn thành phần kiềm khác bao gồm natri cacbonat (hay còn gọi là soda) và natri glycine carbonate. Khi ion natri là không mong muốn hoặc cần phải được giới hạn, như trong trường hợp các sản phẩm kháng axit, trong đó liều lượng phụ thuộc vào lượng natri được khuyến cáo khi uống. Các nguồn kiềm khác có thể được sử dụng bao gồm kali bicarbonate, kali cacbonat và canxi cacbonat.

3. Chất kết dính

Chất kết dính thường là cần thiết trong viên thuốc sủi bọt để đưa độ cứng của viên thuốc đến điểm có thể xử lý. Các chất kết dính này phải hòa tan trong nước. Một chất kết dính nên được sử dụng rất cẩn trọng vì nó có thể mang độ ẩm tự do vào viên thuốc, điều này là không mong muốn và có thể làm tăng thời kì phân rã khi sử dụng với số lượng lớn.

Lượng chất kết dính lý tưởng là một chất làm cho viên thuốc đủ cứng để xử lý nhưng đủ mềm để tan rã và đủ khô để ổn định. PEG 6000 ở mức sử dụng 3% có thể được sử dụng làm chất kết dính khô. Tuy nhiên, hồ hết các sản phẩm sủi bọt đều có công thức không có chất kết dính vì nhược điểm của nó là mang độ ẩm tự do vào viên thuốc.

4. Chất chống dính

Trong quờ quạng các tá dược được tổng hợp thành viên sủi, chất chống dính là một trong những chất quan trọng nhất vì chưng nếu không có vật liệu này, việc sản xuất viên sủi trên thiết bị tốc độ cao sẽ không thể thực hành được.

Việc chống dính của quá trình tạo hạt sủi trong lịch sử là trở lực chính cho một sản phẩm có thể bán được, có thể bằng lòng được một phần do thực chất của vật liệu thô được dùng và một phần do sự tan rã của viên thuốc nhanh thường được đề nghị. Nhiều chất là chất chống dính hiệu quả ở nồng độ nhất thiết nhưng ức chế sự tan rã của viên thuốc ở cùng nồng độ này. Khi nồng độ được hạ xuống để cho phép sự tan rã của viên thuốc, hiệu quả chống dính của các nguyên liệu này bị mất hoặc giảm đi rất nhiều đến mức chúng không còn hữu ích.

Một chất chống dính hoàn hảo (hoặc tác nhân phụ trợ, nói chung) cho các sản phẩm sủi bọt phải tan trong nước, không độc hại và không vị. Các chất chống dính điển hình như magiê stearate và axit stearic được dùng hạn chế do không tan trong nước và do đó, chúng có khuynh hướng nổi trên bề mặt, tạo ra một vết dầu không quyến rũ. Điều này thỉnh thoảng có thể được khắc phục bằng cách thêm các chất nhũ hóa như lecithin hoặc dioctyl sodium sulfosuccine.

hồ hết các công thức phải dùng chất chống dính tan trong nước như natri benzoate, polyethylen glycol và axit adipic. Đây là những hiệu quả tối thiểu và phụ thuộc nhiều vào phương pháp tạo hạt được dùng. Natri clorua, natri axetat và D, L-leucine (chất chống dính tan trong nước) cũng đã được đề xuất để bôi trơn viên sủi.

5. Chất làm tan

Sự tan rã của viên sủi được tăng cường bởi carbon dioxide được phóng thích trong phản ứng sủi bọt. Các chất làm tan rã bình thường được sử dụng trong các hạt và viên bình thường không được sử dụng trong viên sủi bọt vì các chất tan rã được chọn theo cách mà phải thu được dung dịch trong vòng năm phút sau khi thêm viên thuốc vào ly nước.

6. Chất làm ngọt

Công thức sủi bọt thường chứa chất làm ngọt, thí dụ, sorbitol, sucrose, aspartame hoặc chất làm ngọt tự nhiên khác. Natri saccharin có thể được dùng với natri cyclamate theo tỷ lệ 9: 1. Hương vị hòa tan trong nước có thể được thêm vào để che dấu mùi vị khó chịu và làm cho sản phẩm ngon miệng.

7. Chất tạo màu

Thuốc nhuộm hoặc bột màu hồ có thể được đưa vào công thức để tạo ra các dung dịch hoặc sản phẩm có màu. Độ ổn định màu cũng rất quan yếu và do đó, chất tạo màu nên được chọn làm nguyên liệu khan. Nụ hoa khô, thảo mộc, chiết xuất hoa cúc có thể được dùng cho mục đích này.

8. Chất hoạt động bề mặt

Chúng được thêm vào công thức sủi bọt để tăng độ ẩm.

9. Chất chống tạo bọt

Trong một số trường hợp, các chất chống tạo bọt (tỉ dụ Polydimethylsiloxane) có thể được đưa vào công thức để giảm sự hình thành bọt, và do đó, làm giảm xu hướng thuốc dính vào thành kính trên mực nước.

Lưu ý: Thành phần của dạng bào chế sủi bọt hoặc tá dược được sử dụng trong sản xuất viên sủi được đề nghị phải có độ ẩm thấp và dễ hòa tan.

Xem tiếp trang sau…

Pages: 1 2 3

Các phương pháp điều trị COVID đầu tiên được xác định như thế nào?

Vào ngày 16 tháng 6 năm 2020 tức khoảng một năm trước, phương pháp điều trị hiệu quả trước hết đối với COVID-19 đã được ban bố. Thuốc corticosteroid dexamethasone, đã được dùng để điều trị một số tình trạng viêm và tự miễn nhiễm, đã được phát hiện có hiệu quả đối với những bệnh nhân bị COVID trong tình trạng nghiêm trọng tại bệnh viện. Khám phá này là sản phẩm của thí điểm RECOVERY, một chương trình bắt đầu vào tháng 3 năm 2020 để tìm ra phương pháp điều trị COVID.

RECOVERY , như cách viết hoa gợi ý, là một từ viết tắt của “Randomised Evaluation of COVID-19 Therapy” (Đánh giá tình cờ liệu pháp COVID-19). Đây là một thí điểm được thiết lập tại Đại học Oxford, và đã vấn hơn 40.000 bệnh nhân COVID nhập viện ở Anh. Các phương pháp điều trị mà những bệnh nhân này nhận được là ngẫu nhiên từ 12 phương pháp điều trị đang được thí điểm, do vậy một bệnh nhân riêng lẻ có thể không nhận được không, một, hai hoặc ba phương pháp điều trị nào có thể.

vơ các phương pháp điều trị được đưa vào thử nghiệm trong thể nghiệm RECOVERY đều là các loại thuốc đã có từ trước hoặc phương pháp điều trị các bệnh lý khác. Việc thay thế các loại thuốc đã được chuẩn y cho các bệnh khác sẽ ít tốn thời gian hơn rất nhiều so với việc nắm tìm ra các phương pháp điều trị hoàn toàn mới. Quá trình phê duyệt một loại thuốc mới để sử dụng chung cho bệnh nhân có thể mất vài năm; ngược lại, nếu một loại thuốc đã được duyệt có hiệu quả, tất bệnh nhân có thể bắt đầu dùng nó tức thì.

Cấu trúc của dexamethasone. Ảnh: Wikipedia

Trong số các phương pháp điều trị được thể nghiệm như một phần của thử nghiệm RECOVERY, ba phương pháp đã được tìm thấy là có hiệu quả. Dexamethasone là thuốc trước nhất trong số này, được phát hiện có hiệu quả ở những bệnh nhân nằm viện cần hỗ trợ thở. Cấu trúc của dexamethasone tương tự như cấu trúc của hormone stress, cortisol, và nó có tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch trong cơ thể, điều này có thể giảng giải hiệu quả của nó. Một trong những phương pháp điều trị khác mà thí nghiệm cho thấy có hiệu quả, Tocilizumab, cũng có tác dụng hao hao.

quan yếu không kém, thí điểm RECOVERY đã cho chúng ta thấy những phương pháp điều trị COVID nào không hiệu quả. bít tất chúng ta đều có thể nhớ lại những tuyên bố được đưa ra sớm trong đại dịch về hydroxychloroquine, loại thuốc trị sốt rét mà Donal Trump và những người khác đã quảng cáo là chìa khóa để chữa khỏi COVID. thí điểm RECOVERY đã chỉ ra rằng, trái ngược với những tuyên bố giai thoại này, dữ liệu cho thấy hydroxychloroquine không có hiệu quả như một phương pháp điều trị COVID. Có vẻ như thường hữu dụng khi biết phương pháp điều trị nào không hiệu quả, nhưng đó là một bước quan yếu ngăn các bác sĩ bền chí với các phương pháp điều trị không hiệu quả – và cho phép họ bảo đảm bệnh nhân được điều trị tốt nhất có thể.

Tác dụng của dexamethasone thoạt nghe có vẻ khiêm tốn. Các ước tính, khi bằng chứng về hiệu quả của dexamethasone đối với COVID được công bố lần trước tiên, cho thấy rằng nó có thể ngăn ngừa 1/3 trường hợp tử vong ở bệnh nhân thở máy và 1/5 trường hợp tử vong ở bệnh nhân thở oxy. Nhưng số liệu thống kê từ tháng 3 năm 2021 cho thấy điều trị bằng dexamethasone đã cứu sống 22.000 người và hơn 1.000.000 người trên toàn thế giới.

thí điểm RECOVERY có nhiều ích hơn. Ngoài việc cung cấp các phương pháp điều trị để cứu sống trong đại dịch giờ, nó đã tạo tiền lệ cho việc các thử nghiệm điều trị quy mô lớn, thân thiện với người dùng có thể được thiết lập và chạy trong tình huống khẩn, vô giá khi đại dịch tiếp theo xảy ra. Trong khi chờ, nó vẫn cung cấp chứng cứ cho các phương pháp điều trị có thể giúp chúng ta ở đây và giờ – mới bữa nay, thí điểm đã công bố tin cậy rằng việc tiêm kháng thể vào tĩnh mạch có thể giúp một số bệnh nhân COVID tăng cường phản ứng miễn nhiễm với căn bệnh này.

Bài viết đến đây là hết rồi. nhìn sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest .

Hóa học của những loài ếch độc

Những màu sắc sống động của các loài ếch độc cảnh báo về các hợp chất cực độc có trong da của chúng. Số lượng chất độc trong một con ếch được ước lượng là đủ để giết chết 20.000 con chuột – nhưng những hợp chất này là gì, chúng đến từ đâu, và điều gì làm cho những con ếch không bị ảnh hưởng bởi tác dụng của chúng? Bài viết hôm nay sẽ cho bạn một cái nhìn rõ hơn!

Giới thiệu

Ếch phi tiêu độc là loài ếch có cỗi nguồn từ các khu rừng nhiệt đới của Trung và Nam Mỹ. Có hơn 170 loài khác nhau, trong đó có một loạt các màu sắc tươi sáng khác nhau; trên thực tại, ngay cả trong một loài độc nhất vô nhị cũng có thể có sự biến đổi về màu sắc, có thể dẫn đến nhận dạng sai. Màu sắc sống động này cảnh báo về bản chất độc hại của chúng, nhưng sự hiểu biết những chất độc này đã chứng tỏ là một thách thức lớn hơn bạn mong chờ.

Chất độc của ếch có cỗi nguồn từ đâu?

Để bắt đầu, các nhà khoa học thậm chí còn không biết chắc chất độc đến từ đâu. Lý thuyết ban sơ là những con ếch tự sinh sản chất độc, dù rằng nó đã được ghi nhận rằng mức độ các hợp chất độc hại trong da của chúng giảm theo thời kì khi chúng được giữ trong điều kiện nuôi nhốt.

Các nghiên cứu đã cố chứng minh rằng những con ếch tổng hợp các hợp chất không thành công, và điều này khiến các nhà khoa học xem xét khả năng khác: rằng những con ếch không tự tạo ra các hợp chất, nhưng lấy chúng từ đâu đó.

Điều này dẫn đến giả thuyết về chế độ ăn uống. Các nhà khoa học nhận thấy rằng ếch của cùng một loài cho thấy sự khác biệt trong sự thăng bằng của các hợp chất độc mà chúng chứa trong thời gian, và tự hỏi liệu điều này có thể là do sự thay đổi trong chế độ ăn của chúng.

Điều tra thêm cho thấy sự hiện diện của các hợp chất alkaloid độc nhất vô nhị định trước đây đã được biết đến ở kiến ​​và các động vật chân đốt khác, và rõ ràng là những con ếch bằng cách nào đó tích các hợp chất này từ nguồn thức ăn vào da. chính xác cách họ làm điều này là một khía cạnh của câu chuyện vẫn chưa rõ ràng.

Các chất độc chứa trong ếch độc

Chất độc chứa trong loài ếch độc rất phức tạp: hơn 800 hợp chất alkaloid khác nhau đã được xác định trong da của nhiều loài khác nhau. Nhiều lớp (họ) của các hợp chất này hiện đã có khả năng xác định được nguồn thức ăn, và các loài ếch khác nhau chứa các hỗn hợp khác nhau của các hợp chất. Chúng có thể bao gồm pumiliotoxins, histrionicotoxins, gephyrotoxin, và nhiều loại khác. Tuy nhiên, có lẽ chất độc nhất vô nhị trong số các độc tố này là batrachotoxin.

Batrachotoxin là một trong những chất độc alkaloid độc nhất được biết đến. Nó được tìm thấy ở một số loài ếch độc, nhưng ở chừng độ đặc biệt cao ở ba loài khác nhau: ếch độc vàng, ếch độc Kokoe và ếch độc đầu đen. Loài ếch độc vàng có chứa hàm lượng cao nhất của hợp chất, với một con ếch độc nhất được ước lượng có chứa đủ độc tố để giết 20.000 con chuột, hoặc 10-20 người trưởng thành. Với độc tính cao như vậy, bạn có thể tự hỏi làm thế nào con ếch không chỉ đấu tranh với chất độc khi nó có được từ chế độ ăn uống?

Batrachotoxin giết chết do ảnh hưởng của nó trên các kênh ion natri trong cơ thể. Nó liên kết với các kênh này và mở chúng ra, can thiệp vào sự truyền thần kinh và làm cho cơ co lại. chung cuộc, điều này dẫn đến tim đập nhanh, sau đó ngừng tim và tử vong. May mắn cho những con ếch, chúng có thể tránh được mạng khó chịu này, nhưng cho đến gần đây các nhà khoa học không biết chính xác tại sao.

Người ta chỉ ra rằng những con ếch tránh các tác dụng của độc tố batrachotoxin nhờ một đột biến đơn trong phiên bản của protein kênh ion natri. Đột biến này không làm thay đổi các đặc tính của kênh ion natri, nhưng lại có khả năng chống lại độc tố batrachotoxin, có tức là ếch được tự do điển tích nó mà không giết chết chúng. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ xác thực đột biến này làm cho nó khó khăn hơn nhiều như thế nào đối với batrachotoxin để liên kết với các kênh, nhưng nghiên cứu sâu hơn vẫn có thể tiết lậu lý do.

Ngăn chặn độc tố batrachotoxin ở người

Nghiên cứu trong mai sau cũng có thể tiết lộ một cách ngăn chặn tác dụng của độc tố batrachotoxin ở người, điều này sẽ được hoan nghênh vì ngày nay không có thuốc giải độc cho hợp chất này. Rõ ràng điều gần nhất mà chúng ta hiện đang có với thuốc giải độc là đủ kỳ quặc, một hợp chất độc khác: tetrodotoxin, chất hóa học độc hại cao được tìm thấy trong cá nóc.

Nó hoạt động theo cách trái lại với batrachotoxin – nó cũng liên kết với các kênh ion natri, nhưng chúng bị kẹt lại chứ không phải mở, thành ra có thể làm giảm bớt các hiệu ứng của độc tố. Nó vững chắc không có vẻ giống như điều trị lý tưởng, và tôi đã chẳng thể tìm thấy bất kỳ hồ sơ của nó bao giờ thực sự được sử dụng.

rốt cục, dù rằng chúng nhận được ít sự chú ý, có rất nhiều câu chuyện huých khác trong số các alkaloid khác được tìm thấy trong ếch độc. Một ví dụ như vậy là epibatidine. Alkaloid độc này liên kết với các thụ thể acetylcholine nicotinic (nAChR) trên khắp cơ thể, gây co giật, liệt, và sau đó tử vong.

mặc dầu có những tác dụng độc hại này, nó cũng được nghiên cứu như một thuốc giảm đau tiềm năng, như buộc ràng với các thụ thể (receptor) mà nó mang lại cho nó tác dụng giảm đau. Tuy nhiên, khi liều giảm đau cũng rất gần với liều độc, nghiên cứu dùng nó đã bị ngưng.

bây chừ thì các bạn đã hiểu về hóa học của những loài ếch độc rồi đúng không nào. Lần sau nếu vô tình bạn gặp phải chúng thì hãy cẩn thận nhé!

Tham khảo Compound Interest và tổng hợp.

Thời Tiết

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến