Vắc-xin vectơ vi-rút hoạt động như thế nào?

Sau khi vắc-xin Pfizer & BioNTech và Moderna được Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) Mỹ cấp phép sử dụng nguy cấp để tham dự cuộc chiến chống lại đại dịch toàn cầu COVID-19. thì hôm qua ngày 30/12/2020 Vương quốc Anh đã duyệt y vắc-xin COVID-19 của Đại học Oxford & AstraZeneca. Vắc xin Oxford là vắc xin vectơ vi rút, hoạt động hơi khác với vắc xin RNA. Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét cách chúng hoạt động và nêu bật các loại vắc-xin khác thuộc loại này đang được dùng hoặc phát triển cho COVID-19. Bạn hãy giành ít thời gian để tham khảo nhé!

Đôi nét về hệ thống miễn nhiễm

Để hiểu rõ cách thức hoạt động của vắc-xin COVID-19, trước hết tìm hiểu về cách thức thân chúng ta chống lại bệnh tật. Khi mầm bệnh, như vi-rút gây bệnh COVID-19, tấn công cơ thể chúng ta, chúng tấn công và sinh sôi nảy nở. Sự tấn công này, còn gọi là truyền nhiễm, là tác nhân gây ra bệnh tật. Hệ thống miễn nhiễm của chúng ta dùng một đôi công cụ để chống lại lây. Máu chứa các tế bào hồng huyết cầu, chuyên chở ô-xi tới các mô và cơ quan trong cơ thể và bạch huyết cầu hay các tế bào miễn nhiễm chống lại lây. Các loại tế bào bạch huyết cầu khác nhau chống lại lây truyền theo nhiều cách khác nhau:

  • Đại thực bào là các tế bào máu trắng thu nhận và tiêu hóa các mầm bệnh và các tế bào đã chết hoặc sắp chết. Các đại thực bào để lại các phần của mầm bệnh xâm nhập gọi là kháng nguyên. thân thể xác định các kháng nguyên được coi là hiểm và kích thích các kháng thể tấn công chúng.
  • Tế bào lympho B là các tế bào bạch huyết bảo vệ thân. Chúng tạo các kháng thể tấn công các mảnh vi-rút mà đại thực bào còn để lại.
  • Tế bào lympho T là loại tế bào bạch huyết bảo vệ cơ thể. Chúng tấn công các tế bào trong cơ thể đã bị nhiễm bệnh.
Hệ thống miễn dịch. Nguồn: Dranoff G. Nat Rev Cancer 2004;4:11-22

Lần đầu tiên khi một người bị nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19, có thể mất vài ngày hoặc vài tuần để thân của họ tạo và dùng vơ các phương tiện cấp thiết chống lại mầm bệnh để vượt qua tình trạng nhiễm bệnh. Sau khi nhiễm bệnh, hệ miễn dịch của thân ghi nhớ những gì nó đã học hỏi được về cách bảo vệ cơ thể chống lại bệnh đó.

cơ thể lưu giữ một đôi tế bào lympho T, gọi là tế bào ghi nhớ, mau chóng hành động nếu thân gặp lại loại vi-rút hao hao. Khi phát hiện thấy kháng nguyên tương tự, tế bào lympho B tạo ra kháng thể chống lại chúng. Các chuyên gia vẫn đang tìm hiểu xem thời gian mà các tế bào ghi nhớ này bảo vệ một người khỏi vi-rút gây bệnh COVID-19 là bao lâu.

Cách thức hoạt động của vắc-xin COVID-19

Vắc-xin COVID-19 giúp thân thể chúng ta phát triển khả năng miễn nhiễm chống lại vi-rút gây bệnh COVID-19 mà không cần nhiễm bệnh. Các loại vắc-xin khác nhau tác động theo những cách khác nhau để tạo ra miễn dịch, nhưng với toàn bộ các loại vắc-xin, thân sẽ được cung cấp tế bào lympho T “ghi nhớ” cũng như tế bào lympho B sẽ ghi nhớ cách chống lại vi-rút trong mai sau.

thân thể thường cần vài tuần để tạo tế bào lympho T và tế bào lympho B sau khi tiêm vắc-xin. Do đó, có thể có trường hợp một người bị nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19 ngay trước hoặc sau khi tiêm vắc-xin rồi sau đó bị bệnh do vắc-xin chưa có đủ thời gian để tạo ra miễn dịch.

Đôi khi sau khi tiêm vắc-xin, quá trình tạo khả năng miễn nhiễm có thể gây ra các triệu chứng, như sốt. Những triệu chứng này là thường ngày và là dấu hiệu cho thấy cơ thể đang tạo khả năng miễn nhiễm.

Các loại vắc-xin COVID-19 đang thử nghiêm lâm sàng. Nguồn: theconversation.com

Các loại vắc-xin

Hiện có ba loại vắc-xin COVID-19 đang hoặc sớm triển khai trên quy mô rộng (thể nghiệm lâm sàng tuổi 3) tại Hoa Kỳ. Bên dưới là biểu đạt về cách thức mỗi loại vắc-xin xúc tiến cơ thể ghi nhận và bảo vệ chúng ta khỏi vi-rút gây bệnh COVID-19. Không có loại vắc-xin nào trong số này gây bệnh COVID-19 cho chúng ta.

  • Vắc-xin mRNA chứa vật chất từ vi-rút gây bệnh COVID-19 để cung cấp hướng dẫn cho tế bào chúng ta về cách tạo ra các protein vô hại riêng có với vi-rút đó. Sau khi tế bào của chúng ta tạo ra các bản sao protein đó, chúng phá hủy các vật chất di truyền từ vắc-xin. thân thể chúng ta ghi nhận rằng protein không nên ở đó và tạo các tế bào lympho T và lympho B sẽ ghi nhớ cách chống lại vi-rút gây bệnh COVID-19 nếu chúng ta nhiễm bệnh trong mai sau.
  • Vắc-xin dưới đơn vị thực chất protein gồm các mảnh (protein) vi-rút gây bệnh COVID-19 nhưng vô hại, thay vì là cả thảy con vi-rút. Sau khi tiêm vắc-xin, hệ miễn nhiễm của chúng ta ghi nhận rằng protein không thuộc về thân thể và bắt đầu tạo tế bào lympho T và các kháng thể. Nếu trong mai sau chúng ta bị nhiễm bệnh, tế bào ghi nhớ sẽ ghi nhận và chống lại vi-rút đó.
  • Vắc-xin vectơ chứa phiên bản vi-rút còn sống đã bị làm yếu đi. Đây là loại vi-rút khác với vi-rút gây bệnh COVID-19 và được cấy vật chất di truyền của vi-rút gây bệnh COVID-19 (đây gọi là véc-tơ vi-rút). Sau khi vectơ vi-rút vào trong tế bào của chúng ta, vật chất di truyền sẽ cung cấp các hướng dẫn cho tế bào tạo protein riêng có với vi-rút gây bệnh COVID-19. Dùng các hướng dẫn này, tế bào của chúng ta tạo ra các bản sao protein đó. Điều này xúc tiến thân chúng ta tạo tế bào lympho T và lympho B ghi nhớ cách chống lại vi-rút đó nếu chúng ta bị lây nhiễm trong mai sau.

Vậy vắc-xin vectơ vi-rút hoạt động như thế nào?

Một số nền móng cần thiết để sinh sản các loại vắc-xin này hao hao như đối với vắc-xin RNA mà chúng ta đã đề cập trước đây . Cũng như những loại vắc-xin đó, trước hết chúng ta cần biết mã di truyền của vi-rút. Đặc biệt, chúng ta cần biết mã cho các protein của vi-rút. Giống như vắc-xin RNA, vắc-xin vectơ vi-rút dùng mã cho protein đột biến của vi-rút. Đây là loại protein mà vi rút sử dụng để thâm nhập vào tế bào và gây nhiễm trùng.

Vật liệu di truyền mã hóa protein đột biến, có thể lây sang tế bào người, được đưa vào một loại vi-rút cảm lạnh đã biến đổi từ tinh tinh. Sự kết hợp này là vắc-xin Oxford-AstraZeneca sau đó được tiêm cho những người yêu nguyện. Vắc-xin cho phép các tế bào cơ ở cánh tay tạo ra protein đột biến, giúp thân thể biết trước về vi-rút và cho phép nó phát triển phản ứng miễn dịch nếu vi-rút đích thực tiến công. Nguồn: theconversation.com

Vắc-xin RNA cung cấp RNA trực tiếp đến các tế bào của chúng ta, được bao bọc trong các giọt chất béo nhỏ để bảo vệ nó. Thách thức với phương pháp này đã được ghi nhận rõ ràng: vắc xin phải được bảo quản ở nhiệt độ thấp để giữ cho RNA ổn định. Điều này có thể khiến việc phân phối và sử dụng các loại vắc-xin này ở một số quốc gia trở thành khó khăn hơn.

Vắc-xin vectơ vi-rút giải quyết vấn đề này bằng cách nhập lậu RNA protein của vi-rút vào tế bào của chúng ta theo một cách khác. Các nhà khoa học có thể thêm RNA vào nguyên liệu di truyền của một loại vi-rút khác, một vector vi-rút, sau đó được sử dụng trong vắc-xin.

Cũng giống như vắc-xin RNA, một khi RNA protein của vi-rút nằm trong tế bào của chúng ta, bộ máy tế bào của chúng ta sẽ dùng nó như một bản thiết kế để tạo ra protein vi-rút. Sau đó, phản ứng này gây ra phản ứng miễn dịch, giúp đào tạo hệ thống miễn dịch của thân chúng ta để nhận ra vi-rút SARS-CoV-2. Nếu sau đó chúng ta bị nhiễm, hệ thống miễn dịch của chúng ta sẽ nhận ra rằng nó đã được nhìn thấy một phần của loại vi-rút này trước đó và điều chỉnh phản ứng miễn dịch của chúng ta nhanh hơn.

Bạn có thể lo âu về ý tưởng nhập lậu RNA của vi-rút SARS-CoV-2 vào bên trong một loại vi-rút khác. Không có nguy cơ nào mà các vectơ vi-rút này có thể tự gây nhiễm trùng? Để tránh nguy cơ này, các nhà khoa học dùng các vectơ vi-rút đã bị biến đổi gen chẳng thể gây bệnh. RNA tạo ra protein tăng đột biến SARS-CoV-2 cũng bị phá vỡ khi các tế bào của chúng ta tạo ra protein, bởi vậy điều này cũng không gây ra nguy cơ lây truyền.

Vắc-xin có thể dùng một số loại vi-rút khác nhau làm vật trung gian truyền vi-rút, nhưng phổ quát nhất trong số các ứng cử viên vắc-xin COVID-19 là adenovirus . Adenovirus là một trong số những loại vi-rút có thể gây ra cảm lạnh thường ngày. Người ta ước tính rằng chúng gây ra ít hơn 5% các trường hợp nhiễm trùng này.

Cấu trúc của Adenovirus. Nguồn: Kateryna Kon/Shutterstock.com

Một số ứng cử viên vắc-xin COVID-19 dùng vectơ virus adenovirus ở người. Điều này bao gồm vắc-xin Sputnik V của Nga và vắc-xin CanSino Biologics của Trung Quốc. Một vấn đề tiềm ẩn với những vectơ này là chắc chắn một số người trong chúng ta đã từng tiếp xúc với những vi-rút này trước đây. Do đó, chúng ta có thể có một số chừng độ miễn dịch với chúng. Điều này có tức là bản thân vectơ vi-rút tạo ra phản ứng miễn dịch, có tức thị phản ứng miễn dịch đối với vi rút SARS-CoV-2 không được tăng cường hiệu quả.

Thay vào đó, vắc-xin Oxford tránh được những vấn đề này bằng cách sử dụng adenovirus trên tinh tinh. Ít người hơn sẽ có phản ứng miễn dịch hiện có đối với adenovirus tinh tinh, do vậy chúng ta có thể tin cẩn rằng nó sẽ không ảnh hưởng đến phản ứng miễn dịch của chúng ta với vắc-xin. Một loại vắc-xin khác đang được phát triển ở Ý đã sử dụng cách tiếp cận tương tự với vi-rút adenovirus khỉ đột.

vớ các ứng cử viên vắc-xin vectơ vi-rút cho COVID-19 đều không sao chép. Điều này có tức là chúng không tạo thêm vectơ vi-rút trong các tế bào mà chúng lây truyền. mặc dầu chúng cần liều lượng cao hơn so với việc tái tạo vắc-xin vectơ vi-rút, nhưng nó cũng làm tăng thêm niềm tin của chúng ta về sự an toàn của chúng.

nên chi, nếu bạn được tiêm vắc-xin Oxford, bạn có thể mong đợi điều gì? Chúng ta biết rằng vắc-xin vectơ vi-rút gây ra phản ứng miễn nhiễm mạnh mẽ. Điều này có thể có tức là các tác dụng phụ nhỏ như nhức đầu và sốt sau khi uống thuốc chủng ngừa có thể phổ biến hơn. Nhưng đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy vắc-xin đang hoạt động, thành thử không phải là nguyên nhân đáng lo ngại.

Không nghi gì nữa, việc thông qua vắc-xin Oxford là một tin tốt. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là chương trình tiêm chủng sẽ mất thời gian. Đây không phải là một thẻ “ra khỏi tù miễn phí” cho làn sóng các trường hợp COVID-19 hiện tại và những tuần và tháng sắp tới sẽ còn khôn cùng thách thức, nhưng nó hy vọng sẽ giúp làm giảm mối đe dọa của COVID vào cuối năm 2021.

Bài viết đến đây là hết rồi. ngó sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo CDC , Compound Interest và tổng hợp.

Khoa học đã giúp chống lại COVID-19 như thế nào?

Cách đây một năm và hai ngày, lớp lang di truyền của vi-rút SARS-CoV-2 lây lan khắp thế giới đã được chia sẻ. mặc dầu chúng ta vẫn chưa đánh giá cao tác động mà vi-rút sẽ gây ra đối với cuộc sống, nhưng đây đã là thời khắc mà khoa học bắt đầu chống lại. Trong bài viết này, chúng ta sẽ nêu bật các mốc quan trọng của khoa học đã mang lại cho mọi người phương pháp điều trị, vắc xin, và nhiều thứ khác nữa. Bạn hãy giành ít thời gian để tham khảo nhé!

Cấu trúc của vi-rút SARS-CoV-2. Nguồn: Phunuonline.com.vn

Giống như lớp lang di truyền của chúng ta, lớp lang di truyền của vi-rút chứa tuốt tuột các chỉ dẫn mà nó cần để hoạt động: mã (code) cho các protein giúp vi-rút thâm nhập vào tế bào của thân thể chúng ta và các bước để nó tạo ra các bản sao của chính nó để có thể lây nhiễm vào vật chủ mới. Trong khi thông tin di truyền của chúng ta được mã hóa trong phân tử DNA sợi đôi, thì thông tin của SARS-CoV-2 được mã hóa trong sợi đơn của nó, RNA.

Vật chất di truyền được xây dựng từ các nucleotide. Cũng giống như các chữ cái trong bảng chữ cái tạo nên từ và câu, các nucleotide tạo nên mã di truyền. Sự dị biệt là, trong khi bảng chữ cái tiếng Anh có 26 chữ cái, bảng chữ cái nucleotide của mã di truyền chỉ có bốn: adenosine, guanosine, cytidine và thymidine. Các nucleotide này được viết tắt là A, G, C và T. Trong RNA, thymidine được thay thế bằng uridine (được ký hiệu bằng chữ U).

Quá trình sao chép DNA. Nguồn: Thetech.org

Xác định trình tự di truyền liên hệ đến việc tìm ra lớp lang As, Gs, Cs và Us tạo nên nó. Điều này nghe có vẻ không đơn giản khi bạn nhận ra rằng lớp lang di truyền của SARS-CoV-2 dài khoảng 30.000 nucleotide. Có một số kỹ thuật đã được phát triển để cho phép các nhà khoa học bẻ khóa mã – kỹ thuật được sử dụng để giải lớp lang ban sơ SARS-CoV-2 được gọi là ‘giải lớp lang bằng tổng hợp’.

Như tên của nó, giải lớp lang bằng tổng hợp bao gồm việc tìm ra trình tự di truyền bằng cách xây dựng nó. trước tiên, chuỗi RNA của vi-rút được chuyển đổi thành DNA. DNA này được tinh chế, chia thành các phần nhỏ hơn để giải lớp lang, sau đó được sao chép hàng nghìn lần. Mỗi phần nhỏ hơn của DNA được ‘giải nén’ để được sao chép, tách nó thành hai sợi bổ sung.

Cấu trúc của dNTP và ddNTP. Nguồn: Thetech.org

Trong quá trình giải trình tự, một enzym polymerase xây dựng trình tự di truyền một nucleotide tại một thời khắc, dùng DNA đã giải nén làm khuôn mẫu cho bản sao mà nó tạo ra. Mỗi nucleotide có một phân tử ‘terminator’ (terminator, là ddNTP: dideoxynucleotide triphosphate) gắn liền với nó, phân tử này giúp tạm dừng chuỗi mỗi khi nucleotide mới được thêm vào. Terminator này cũng có gắn một tag (thẻ) huỳnh quang, có thể được phát hiện bằng một camera đặc biệt. Ánh sáng phát ra từ thẻ huỳnh quang cho biết nucleotide nào đã được thêm vào chuỗi.

Sau đó, terminator và tag bị loại bỏ, tạm dừng phản ứng sao chép, bắt đầu lại. Một nucleotide khác được thêm vào. Tạm ngừng. Các nucleotide được thêm vào được ghi lại. Dừng lại. Và cứ đấu như vậy cho đến khi cả thảy gần 30.000 nucleotide đã được ghi lại.

Phương pháp giải lớp lang Sanger. Nguồn: Rachel A McGovern

Phương pháp này nghe có vẻ tốn thời kì, ghi lại từng nucleotide một, nhưng nó thực thụ khá nhanh chóng và có thân xác định trình tự di truyền trong vài giờ. Vi-rút SARS-CoV-2 chỉ đích thực được phân lập một vài ngày trước khi trình tự gen dự thảo được ban bố. lớp lang được ban bố bởi một tập đoàn nghiên cứu do Trung Quốc đứng đầu là truy cập mở, có tức thị các nhà khoa học khác trên thế giới có thể tận dụng nó ngay lập tức.

Chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn một số tiến bộ khoa học mà nó đã kích hoạt khi chúng ta xem qua loạt bài này, nhưng đáng để làm nổi bật một đôi tiến bộ hạp ngay hiện. thí dụ, vắc-xin Moderna được thông qua gần đây sử dụng một phần mã RNA của SARS-CoV-2 – và được thiết kế chỉ vài ngày sau khi trình tự di truyền được ban bố.

Gần đây cũng có rất nhiều mối quan hoài và bàn thảo về các biến thể mới nổi của vi-rút SARS-CoV-2. Kiến thức về các biến thể này có được nhờ giải trình tự gen, giúp chúng ta so sánh lớp lang hiện tại với trình tự ban sơ này và hiểu được những đổi thay có thể ảnh hưởng đến vi-rút như thế nào.

Trở lại vào ngày 10 tháng 1 năm 2020, không ai trong chúng ta có thể lường trước được đại dịch sẽ đến. Nhưng một trong những dụng cụ khoa học quan yếu để giúp chúng ta xuất hiện từ đó đã có sẵn.

Bài viết đến đây là hết rồi. nom sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé.

Tham khảo Compound Interest .

Vắc-xin Gamaleya hoạt động như thế nào?

Viện Nghiên cứu Gamaleya, thuộc Bộ Y tế Nga, đã phát triển một loại vắc-xin coronavirus được gọi là Sputnik V hoặc Gam-Covid-Vac. Gamaleya đã ban bố một nghiên cứu vào tháng 2 cho thấy vắc-xin này có tỷ lệ hiệu quả là 91,6% . Nga đang dùng nó trong một chiến dịch tiêm chủng hàng loạt và hiện nó đang được phân phối ở Argentina, Belarus và các quốc gia khác. Nhưng cách thức hoạt động của loại vắc-xin này như thế nào thì không phải ai cũng biết? Hãy theo dõi bài viết sau đây để hiểu rõ hơn nhé!

Đôi nét

Vắc-xin Sputnik V là vắc-xin vectơ adenovirus hai liều sử dụng hai adenovirus khác nhau cho mỗi liều, với các liều được tiêm cách nhau 21 ngày. Với loại vắc-xin này, một adenovirus được đổi thay để nó có thể đưa một phần vật chất di truyền từ vi-rút gây ra Covid-19 vào thân thể và khiến các tế bào mô tả cảm ứng spike được tìm thấy trên vi-rút và tạo ra phản ứng miễn dịch. Đó là một cách tiếp cận rưa rứa như vắc-xin được phát triển bởi AstraZeneca và Johnson & Johnson.

Vắc-xin Sputnik V của Nga có hiệu quả 91,6% đối với Covid-19 có triệu chứng và 100% hiệu quả đối với bệnh nặng và nhàng nhàng, theo một phân tích tạm thời về kết quả thử nghiệm tuổi 3 của vắc xin. Các phát hiện sơ bộ đã được công bố trên tùng san The Lancet và dựa trên dữ liệu thu thập được từ 19.866 người dự, trong đó khoảng 3/4 (14.964) được tiêm hai liều vắc-xin và 1/4 (4.902) đã được dùng giả dược. Mười sáu trường hợp có triệu chứng Covid-19 đã được xác nhận trong nhóm vắc-xin 21 ngày sau khi những người dự nhận được liều vắc-xin trước tiên. Sáu mươi hai trường hợp được tìm thấy trong nhóm giả dược – tương đương với hiệu quả 91,6%.

thể nghiệm bao gồm 2.144 người trên 60 tuổi và một phân tích phụ được thực hiện trên nhóm này cho thấy vắc-xin được dung nạp tốt và có hiệu quả hao hao 91,8%. Nhóm nghiên cứu cũng phân tách hiệu quả của vắc-xin chống lại bệnh Covid-19 nặng và nhàng nhàng và 21 ngày sau liều trước nhất không có trường hợp nghiêm trọng hoặc nhàng nhàng nào được thưa trong nhóm được tiêm chủng, trong khi 20 trường hợp được ít ở nhóm dùng giả dược.

Các tác dụng phụ nghiêm trọng cũng rất hiếm và không có tác dụng phụ nào được coi là liên can đến tiêm chủng. Theo nghiên cứu, phần lớn các tác dụng phụ được bẩm là nhẹ, chả hạn như đau tại chỗ tiêm, các triệu chứng như cảm cúm và mức năng lượng thấp. Tuy nhiên, phân tích chỉ bao gồm các trường hợp có triệu chứng của Covid-19 và các tác giả lưu ý rằng cần phải nghiên cứu thêm để hiểu hiệu quả của vắc-xin chống lại Covid-19 không triệu chứng, sự lây truyền và thời kì bảo vệ có thể kéo dài.

Cách thức hoạt động của vắc-xin

Một mảnh của Coronavirus

Hình minh họa một mảnh Coronavirus

Sputnik V dựa trên các chỉ thị di truyền (genetic instruction) của vi-rút để xây dựng protein đột biến. Nhưng không giống như vắc-xin Pfizer-BioNTech và Moderna , lưu trữ các chỉ thị di truyền trong RNA sợi đơn, Sputnik V dùng DNA sợi kép.

DNA bên trong Adenovirus

Các nhà nghiên cứu đã phát triển vắc-xin của họ từ adenovirus, một loại vi-rút gây cảm lạnh. Họ đã thêm gen của gen spike protein hay protein hình gai của coronavirus vào hai loại adenovirus, một loại được gọi là Ad26 và một có tên là Ad5, và thiết kế chúng để chúng có thể xâm nhập tế bào nhưng không sao chép.

Hai loại adenovirus Ad26 và Ad5

Sputnik V ra đời sau nhiều thập kỷ nghiên cứu về vắc-xin dựa trên adenovirus. Loại trước nhất đã được ưng ý dùng chung vào năm ngoái – vắc xin phòng bệnh Ebola, do Johnson & Johnson sinh sản. Một số vắc-xin coronavirus khác cũng dựa trên adenovirus, chả hạn như một loại của Johnson & Johnson dùng Ad26, và một loại của Đại học Oxford và AstraZeneca dùng adenovirus của loài tinh tinh.

xâm nhập vào tế bào

Sau khi Sputnik V được tiêm vào cánh tay của một người, các adenovirus sẽ xâm nhập vào các tế bào và bám vào các protein trên bề mặt của chúng. Tế bào nhấn chìm virus trong bong bóng và kéo nó vào bên trong. Khi vào bên trong, adenovirus thoát ra khỏi bong bóng và đi đến nhân, khoang chứa DNA của tế bào (Xem hình tả tại đây ).

Adenovirus đẩy DNA của nó vào trong nhân. Adenovirus được thiết kế để nó không thể tạo ra các bản sao của chính nó, nhưng gen của spike protein coronavirus có thể được tế bào đọc và sao chép thành một phân tử gọi là RNA thông tin, hoặc mRNA.

Xây dựng các spike protein

mRNA rời khỏi nhân, và các phân tử của tế bào đọc lớp lang của nó và bắt đầu tụ hợp các protein đột biến (Xem hình biểu thị tại đây ).

Một số protein đột biến được tạo ra bởi tế bào hình thành các gai di chuyển lên bề mặt của nó và nhô ra các đầu của chúng. Các tế bào được tiêm chủng cũng phá vỡ một số protein thành các mảnh mà chúng hiện diện trên bề mặt của chúng. Sau đó, những gai nhô ra và các mảnh protein nhọn này có thể được hệ thống miễn dịch nhận ra.

Adenovirus cũng khích động hệ thống miễn dịch bằng cách bật hệ thống báo động của tế bào. Tế bào phát ra tín hiệu cảnh báo để kích hoạt các tế bào miễn nhiễm gần đó. Bằng cách nâng cao cảnh báo này, Sputnik V khiến hệ thống miễn nhiễm phản ứng mạnh hơn với các spike protein.

Phát hiện kẻ thâm nhập

Khi một tế bào được tiêm chủng chết đi, mảnh vỡ có chứa các spike protein và các mảnh protein sau đó có thể được một loại tế bào miễn nhiễm gọi là tế bào trình diện kháng nguyên hấp thu (Xem hình trình bày tại đây ).

Tế bào biểu thị các mảnh của protein đột biến trên bề mặt của nó. Khi các tế bào khác được gọi là tế bào T trợ giúp phát hiện ra những mảnh vỡ này, tế bào T viện trợ có thể báo động và giúp điều khiển các tế bào miễn dịch khác chống lại nhiễm trùng.

Tạo kháng thể

Các tế bào miễn dịch khác, được gọi là tế bào B, có thể cộc vào các gai coronavirus trên bề mặt của các tế bào được tiêm chủng, hoặc các mảnh protein đột biến tự do. Một vài tế bào B có thể khóa các spike protein. Nếu các tế bào B này sau đó được kích hoạt bởi các tế bào T trợ giúp, chúng sẽ bắt đầu tăng sinh và tiết ra các kháng thể nhắm vào spike protein (Xem hình biểu lộ tại đây ).

Dừng vi-rút

Các kháng thể có thể bám vào các gai của coronavirus, đánh dấu sự xoá sổ của vi-rút và ngăn ngừa nhiễm trùng bằng cách ngăn chặn các gai bám vào các tế bào khác (Xem hình biểu hiện tại đây ).

Giết các tế bào bị nhiễm bệnh

Các tế bào trình diện kháng nguyên cũng có thể kích hoạt một loại tế bào miễn dịch khác được gọi là tế bào T sát thủ để từng và diệt bất kỳ tế bào nào bị nhiễm coronavirus hiển thị các đoạn spike protein trên bề mặt của chúng (Xem hình tả tại đây ).

Hai liều tiêm

Một số nhà nghiên cứu lo âu rằng hệ thống miễn nhiễm của chúng ta có thể phản ứng với vắc-xin adenovirus bằng cách tạo ra các kháng thể chống lại nó, điều này sẽ làm cho liều thứ hai không hiệu quả. Để tránh điều này, các nhà nghiên cứu Nga đã sử dụng một loại adenovirus, Ad26, cho liều đầu tiên và một loại khác, Ad5, cho liều thứ hai.

Hai liều tiêm vắc-xin Sputnik V

Vắc xin dựa trên Adenovirus cho Covid-19 chắc chắn hơn vắc xin mRNA của Pfizer và Moderna . DNA không phong phanh như RNA, và lớp áo protein dai của adenovirus giúp bảo vệ vật chất di truyền bên trong. Do đó, Sputnik V có thể được bảo quản lạnh và không đề nghị nhiệt độ bảo quản quá thấp.

Ghi nhớ vi-rút

Gamaleya đã ban bố rằng Sputnik V có tỷ lệ hiệu quả là 91,6%, nhưng vẫn chưa xuất bản một bài báo khoa học với đầy đủ chi tiết của thí nghiệm.

Vẫn chưa rõ khả năng bảo vệ của vắc-xin có thể kéo dài bao lâu. chừng độ kháng thể và tế bào T sát thủ do vắc-xin kích hoạt có thể giảm trong những tháng sau khi tiêm chủng. Nhưng hệ thống miễn nhiễm cũng chứa các tế bào đặc biệt được gọi là tế bào B bộ nhớ và tế bào T bộ nhớ có thể lưu giữ thông báo về coronavirus trong nhiều năm hoặc thậm chí nhiều thập kỷ.

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo The Lancet , CNN , Sputnikvaccine The New York Times .

Hóa học đằng sau quá trình chuyển dạ và sinh con

Như bạn có thể đã xem từ các bài đăng hệ trọng đến việc mang thai trước đây trên trang web ( tại đây tại đây ), vợ tôi và tôi đang chờ mong đứa con đầu lòng của mình. Trong quá trình chuyển dạ và sinh nở, các thuật ngữ như ‘gây tê ngoài màng cứng’, ‘ Entonox (gas and air)’ và ‘Khởi phát chuyển dạ’ được đưa ra xung quanh, nhưng những loại thuốc cụ thể này liên quan đến những loại thuốc nào? Chúng làm việc như thế nào? Những lợi ích và rủi ro là gì? nên bài đăng này nhằm mục đích cung cấp các câu giải đáp hóa học. Bạn hãy giành ít thời gian để xem xét nhé!

Đôi nét

Một số nữ giới chọn sinh con mà không cần dùng bất kỳ loại thuốc nào. Những người khác chọn dùng thuốc để giảm đau hoặc bắt đầu chuyển dạ. Những người khác vẫn có thể phải dùng thuốc do các tình trạng sẵn có hoặc lo ngại cho sức khỏe của mẹ hoặc con.

Thuốc dùng trong quá trình chuyển dạ và sinh con. Ảnh: Babyandchild

Tuy nhiên, một người đàn bà chọn sinh con, hóa học đóng một vai trò quan trọng. Chúng ta đã xem xét sự thăng bằng của các hormone trong thân thể nữ giới điều chỉnh như thế nào khi mang thai . Những đổi thay nội tiết tố tự nhiên này chuẩn bị cho cơ thể chuyển dạ. Đặc biệt, nồng độ oxytocin trong cơ thể tăng cao khi bắt đầu chuyển dạ, gây ra các cơn co thắt.

Chỉ có khoảng 5% nữ giới sinh con đúng ngày dự sinh, nhưng khoảng 60% đàn bà sinh con trước hoặc gần ngày dự sinh . 35% phụ nữ sẽ chuyển dạ tự nhiên trong vòng hai tuần kể từ ngày dự sinh. Nếu điều này không xảy ra, nữ cô mụ và bác sĩ có thể đề nghị Khởi phát chuyển dạ.

Hóa học đằng sau

Khởi phát chuyển dạ khởi động quá trình sinh nở. Nó thường được sử dụng khi em bé trễ hạn sinh hoặc có những rủi ro đối với sức khỏe của mẹ hoặc bé. Nó liên tưởng đến việc đặt một viên thuốc, viên nén hoặc gel vào âm đạo của nữ giới. Cả ba loại này đều chứa prostaglandin, thường là một loại prostaglandin cụ thể được gọi là dinoprostone.

Khởi phát chuyển dạ là một quá trình mà thầy thuốc sẽ kích thích các cơn gò tử cung giúp sản phụ sinh con qua ngã âm đạo.

Nguồn: Vinmec.com
Cấu trúc của Dinoprostone. Ảnh: Wikipedia

Prostaglandin được sản xuất thiên nhiên trong thân thể. Chúng được tạo ra tại vị trí bị thương hoặc nhiễm trùng, nơi chúng tạo ra viêm và đau, góp phần vào quá trình chữa lành. Trong trường hợp cảm ứng, chúng giúp cổ tử cung ‘chín muồi’. Khi mang thai, cổ tử cung cứng và giữ em bé trong tử cung, nhưng trước khi sinh, cổ tử cung mềm và bắt đầu mở ra.

dùng các phương pháp kích thích này có thể đủ để đàn bà chuyển dạ. Nếu không, cổ tử cung của người phụ nữ rốt cục sẽ giãn ra đủ để một nữ bà mụ có thể làm vỡ nước ối bằng tay. Quá trình này có thể mất đến 72 giờ, nên đây không phải là một quá trình nhanh chóng! (Hồi hộp chờ đợi…)

Khi nước ối của nữ giới bị vỡ, áp lực của đầu em bé với đỉnh cổ tử cung sẽ kích hoạt giải phóng oxytocin . Như đã đề cập trước đây, đây là loại hormon đích thực khiến các cơn co thắt diễn ra. Đối với một số nữ giới, các cơn co thắt không phải lúc nào cũng bắt đầu khi nước ối của họ vỡ ra hoặc không đủ lâu hoặc đủ mạnh.

Cấu trúc của Oxytocin. Ảnh: Dreamstime

Trong những trường hợp này, có thể cung cấp thêm hỗ trợ y tế dưới dạng nhỏ giọt oxytocin. Một phiên bản tổng hợp y sì nhau về mặt hóa học của oxytocin (thường dưới tên biệt dược như syntocinon) được cung cấp cho người nữ giới. Điều này làm tăng tần suất và sức mạnh của các cơn co thắt.

Sau đó, sau khi sinh em bé, có thể tiêm kết hợp oxytocin và ergometrine (gọi là syntometrine). Điều này là để giúp sinh nhau thai. Có bằng cớ cho thấy việc tiêm oxytocin vào thời điểm này có thể làm giảm nguy cơ mất máu nghiêm trọng cho người mẹ.

Khi quá trình chuyển dạ đang diễn ra, một số phụ nữ có thể chọn tiến hành mà không cần giảm đau. Cần lưu ý rằng, nếu quá trình chuyển dạ của một phụ nữ được gây ra như tả ở trên, nó thường có thể đau hơn so với chuyển dạ tự bắt đầu. Nếu họ chọn giảm đau, có một số tuyển lựa có sẵn.

hồ hết các trọng tâm bệnh viện phụ sản và khu sinh nở sẽ có sẵn nguồn cung cấp ‘ Entonox (gas and air)’. Cái tên này hơi mơ hồ từ góc độ hóa học; gas and air (khí và không khí) thực sự là một hỗn hợp 50:50 của oxy và nitơ oxit. Nó được hít vào trong các cơn co thắt và dù rằng không làm giảm cơn đau, nhưng nó có thể làm cho dễ chịu hơn. Nó cũng khiến bạn say và nhẹ đầu khi hít vào. Điều này có thể dẫn đến một số hoạt động thư giãn trong quá trình chuyển dạ!

Cấu trúc của Pethidine. Ảnh: Wikipedia

Để giảm đau nhiều hơn Entonox có thể cung cấp, người ta sẽ tiêm thuốc phiện. Pethidine và diamorphine thường được dùng. Một lần nữa, chúng không loại bỏ hoàn toàn cơn đau nhưng có thể làm cho nó dễ chịu hơn rất nhiều. Không giống như Entonox, opioid có thể có các tác dụng phụ, bao gồm buồn ngủ, buồn nôn và nôn. Một đánh giá gần đây về việc dùng opioid trong sinh đẻ không tìm thấy chứng cớ rõ ràng về tác dụng phụ đối với trẻ lọt lòng.

Để giảm đau hơn nữa, đàn bà có thể đề nghị gây tê ngoài màng cứng. Gây tê ngoài màng cứng là tiêm thuốc xung quanh các dây tâm thần của cột sống mang tín hiệu đau từ tử cung. Thông thường, các loại thuốc được dùng là sự phối hợp của thuốc gây tê cục bộ, chả hạn như bupivacaine và opioid, chẳng hạn như fentanyl. mặc dù có thể mất đến 40 phút để gây tê ngoài màng cứng, nhưng khi nó xuất hiện, cơn đau sẽ giảm đáng kể.

Khi thuốc được tiêm vào lưng thông qua một ống thông, thuốc giảm đau có thể được thêm vào bằng cách sử dụng một nút bấm. bác sĩ gây mê gây tê ngoài màng cứng sẽ kiểm tra hiệu quả của nó bằng cách sử dụng một bình xịt lạnh vào chân và thân của người phụ nữ, để đánh giá tình trạng mất cảm giác. Một số đàn bà có thể bị tê chân tùy thuộc vào chừng độ của thuốc gây mê. Hầu hết các ca gây tê ngoài màng cứng đều diễn ra suôn sẻ, nhưng có một số tác dụng phụ có thể xảy ra .

Cấu trúc của Bupivacaine. Ảnh: Wikipedia

Trong những trường hợp không phổ thông, gây tê ngoài màng cứng có thể không hoạt động hiệu quả như mong muốn. Nếu nữ giới vẫn còn đau sau khi gây tê ngoài màng cứng, có thể vận dụng các phương pháp giảm đau khác. Gây tê cột sống có thể là một trong những tuyển lựa này.

Không giống như gây tê ngoài màng cứng, gây tê cột sống liên quan đến việc tiêm trực tiếp một lượng nhỏ thuốc tê vào dịch tủy sống. Điều này hoàn toàn loại bỏ cảm giác và khả năng di chuyển dưới mức tiêm. Gây tê cột sống thỉnh thoảng được dùng cho các ca sinh mổ hoặc trong các ca đỡ đẻ phức tạp hơn. Đối với trường hợp sinh mổ nguy cấp, thuốc gây mê toàn thân cũng có thể được sử dụng.

Vợ tôi sinh thường thiên nhiên nên chỉ qua một phần các loại thuốc trên trong quá trình sinh con gái của chúng tôi vài giờ trước, con tôi đã vượt qua nhiều giờ kể từ khi chuyển dạ đến khi sinh một cách anh dũng. Bài viết này tôi đã chuẩn bị từ nhiều ngày trước đó như đánh dấu một cột mốc đáng nhớ trong cuộc thế tôi. Thật hạnh phúc, cô công chủa nhỏ của tôi đã đến nơi an toàn, cả con tôi và vợ tôi đều ổn!

Bài viết đến đây là hết rồi. ngóng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Healthgrades NHS .

Nghiên cứu trước đây đã giúp ích như thế nào cho những nỗ lực về vắc xin COVID-19?

Vào ngày 16 tháng 03 năm 2020, vắc xin Moderna COVID-19 đã bước vào thí điểm giai đoạn 1, trở nên vắc xin COVID trước hết làm được điều này. Điều này xảy ra chưa đầy một tuần sau khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố COVID-19 là một đại dịch toàn cầu. Làm thế nào mà điều này lại có thể xảy ra chóng vánh như vậy? Phần thứ ba của loạt bài về COVID-19 này sẽ cung cấp cho các bạn góc nhìn tổng quan ngắn gọn về công trình trước đó và những gì mà các thí nghiệm thời đoạn 1 đã xem xét. Bạn hãy giành ít thời kì để tham khảo nhé!

Đôi nét

Vắc xin của Moderna, giống như của Pfizer / BioNTech, là vắc xin RNA , một công nghệ trước đây chưa được dùng trong một sản phẩm đã được thông qua. Tương tự, công nghệ vectơ vi-rút được sử dụng trong vắc xin Oxford / AstraZeneca trước đây chưa được ưng để chủng ngừa các bệnh khác. Tuy nhiên, nghiên cứu về cả hai công nghệ vắc xin này đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ nay – công việc quan trọng cho phép các loại vắc xin này được sinh sản nhanh chóng để ứng phó với đại dịch.

Khái niệm vắc xin dựa trên RNA lần trước hết được đề xuất vào năm 1990. Trong những năm sau đó, trong các thử nghiệm trong phòng thể nghiệm đã chỉ ra rằng mRNA có thể tạo ra nhiều loại miễn nhiễm khác nhau. thay đầu tiên trong việc sinh sản vắc xin dựa trên mRNA là vào năm 1993, đó chính là vắc xin RNA mã hóa kháng nguyên cúm tạo ra phản ứng miễn dịch ở chuột .

Vắc xin RNA. Ảnh: Shutterstock

mặc dầu thành công nhưng có một thách thức đối với sự thành công của vắc xin mRNA là tính phong thanh của mRNA tổng hợp. Hệ thống miễn nhiễm của cơ thể chúng ta cực kỳ hiệu quả trong việc phát hiện những kẻ thâm nhập, và mRNA tổng hợp chóng vánh được xác định và tháo trước khi nó có thể tiếp cận các tế bào đích, khiến bất kỳ loại vắc xin nào cũng trở thành vô dụng.

Một số giải pháp

Giải pháp là phát triển một dạng ngụy trang cho mRNA. mRNA được tạo thành từ các sườn được gọi là nucleoside. Nhà sinh hóa học Katalin Karikó và nhà miễn nhiễm học Drew Weissman đã phát hiện ra rằng bằng cách hoán đổi các nucleoside này cho một nucleoside hao hao nhưng khác về cấu trúc, mRNA có thể thoát khỏi dưới sự dò tìm của hệ thống miễn nhiễm của chúng ta.

Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn giải quyết được vấn đề. dù rằng hệ thống miễn nhiễm không còn được kích hoạt bởi sự hiện diện đơn thuần của mRNA, nhưng các enzym trong cơ thể chúng ta vẫn có thể phá vỡ nó trước khi nó có thể tiếp cận các tế bào của chúng ta. Một sự đổi mới khác là cấp thiết: một cách đóng gói mRNA và tải nó đến các tế bào.

Một số phương pháp đã được phát triển để thực hành việc này, nhưng phương pháp được sử dụng bởi vắc xin COVID RNA ngày nay là bao gói hạt nano lipid. Các hạt nano lipid là những giọt chất béo rất nhỏ, và việc sử dụng chúng để chuyên chở mRNA trong tế bào của chúng ta đã được nghiên cứu trong thập kỷ qua . Nghiên cứu này đã xác định sự phối hợp tốt nhất của các loại lipid khác nhau để bảo vệ mRNA một cách đầy đủ, và nó đóng vai trò quan yếu đối với sự thành công của vắc xin COVID RNA.

Vắc xin COVID RNA được bao gói bới hạt nano lipid. Ảnh: BioRender.com

Các vắc xin vectơ vi-rút, trong đó vắc xin Oxford / AstraZeneca là một tỉ dụ, còn thiếu nhiều nghiên cứu trước đó. Nguồn gốc của những loại vắc xin này thậm chí còn đi xa hơn so với những loại vắc xin RNA, từ những năm 1980.

Một số nghiên cứu

Ban đầu, trọng tâm của nghiên cứu về vectơ vi-rút là điều trị các bệnh di truyền, với hy vọng rằng vectơ vi-rút có thể cung cấp một gen có thể điều chỉnh các đột biến gây ra chúng theo một cách nào đó. Vấn đề là phương pháp này đề nghị liều lượng cao, hoạt động giống như một cơn bùng phát đối với hệ thống miễn dịch của thân, có khả năng gây ra tình trạng viêm lớn.

dù rằng điều này không có ích cho các phương pháp tiếp cận liệu pháp gen, nhưng phản ứng miễn nhiễm có khả năng hữu ích đối với các nhà phát triển vắc xin và bắt đầu nghiên cứu cách dùng vectơ vi-rút để sản xuất vắc xin. Trong những năm 2000, việc phát triển vắc xin vectơ siêu vi khuẩn tụ hợp vào HIV, sốt rét và bệnh lao, với thành công hạn chế. dù rằng vắc-xin đã được sản xuất cho HIV và được chứng minh là an toàn, nhưng thử nghiệm thêm trên người cho thấy nó không hoạt động.

Tuy nhiên, các cải tiến gia tăng đã theo sau. Vào năm 2017, Trung Quốc đã thông qua một loại vắc xin chống lại Ebola sử dụng vectơ vi-rút, đây là loại vắc xin trước nhất được phê chuẩn. Mặc dù các thử nghiệm cho thấy nó tạo ra phản ứng miễn nhiễm, nhưng không có đủ chứng cớ cho thấy nó ngăn ngừa nhiễm trùng.

Mốc thời gian bùng phát của coronavirus trong 20 năm qua. Ảnh: Medmastery.com

Mối quan hoài xung quanh việc vắc xin HIV thất bại và ở chừng độ thấp hơn là vắc xin Ebola, đây là loại vi-rút được sử dụng để tạo ra vectơ vi-rút có thể có phản ứng thụ động đối với phản ứng miễn dịch mà nó tạo ra. Đối với cả hai ví dụ này, các vectơ adenovirus ở người đã được sử dụng – cụ thể là một loại virus có tên là Ad5. Đây là một trong số các loại vi-rút có thể gây ra cảm lạnh thường ngày. chẳng thể tránh khỏi, điều này có tức là một số người trong chúng ta đã tiếp xúc với nó, và do đó có khả năng miễn nhiễm từ trước. Đây là một tin xấu đối với vắc xin vectơ vi-rút, vì nó có thể làm giảm hiệu quả của chúng.

Vì lý do này, một số vắc xin vectơ vi-rút cho COVID-19, bao gồm vắc xin Oxford / AstraZeneca , sử dụng vectơ adenovirus của linh trưởng. phần đông mọi người sẽ không có khả năng miễn nhiễm từ trước đối với những loại vi-rút này, có nghĩa là chúng sẽ không có tác động bị động đến hiệu quả của vi-rút.

Nó không chỉ là nghiên cứu trước đây về vắc xin bổ ích trong việc sản xuất vắc-xin chống lại COVID-19. Nghiên cứu trước đây về các coronavirus khác cũng đã giúp tụ hợp các cố kỉnh sinh sản vắc xin. Dịch SARS năm 2003 và dịch MERS năm 2012 đều do các loại coronavirus khác nhau gây ra.

Thuốc chủng ngừa không bao giờ được sản xuất để chống lại các coronavirus gây ra những đợt bùng phát này; điều này một phần là do tỷ lệ hiện mắc của chúng thấp hơn so với COVID-19, và cũng là kết quả của việc các công ty dược phẩm thiếu các biện pháp khuyến khích để sản xuất vắc xin phòng các bệnh không phổ thông. Tuy nhiên, các ráng phát triển vắc xin vẫn diễn ra và các bài học kinh nghiệm từ những nắm này đã được tính đến khi thiết kế vắc xin cho COVID-19 .

Câu chuyện thử nghiệm vắc xin

quơ các vắc xin COVID đều đã sang các thí nghiệm tiền lâm sàng – những thể nghiệm này không liên can đến con người, thay vào đó thí nghiệm vắc xin trong các tế bào cô lập và trên động vật để đảm bảo rằng chúng an toàn và tạo ra phản ứng miễn nhiễm. thường nhật, vắc xin cần phải hoàn tất giai đoạn này trước khi chúng tiến hành thí nghiệm giai đoạn 1, nhưng trong trường hợp vắc xin COVID, việc khẩn sinh sản chúng có nghĩa là một số thí nghiệm thời đoạn 1 sớm được thực hành song song với các thí nghiệm tiền lâm sàng để đẩy nhanh tiến độ. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là các bài rà soát này vẫn được hoàn tất, nên chi nhìn chung không có góc nào bị cắt.

giai đoạn thí điểm lâm sàng vắc xin phòng virus corona. Ảnh: TS Vũ / Tuổi trẻ online

Các thí nghiệm tuổi 1 chỉ đơn giản là nhằm mục đích kiểm tra vắc xin có an toàn trên người hay không. Chúng cũng có thể được dùng để lấy một số ý tưởng về liều lượng tối ưu của vắc xin ở người, điều mà thử nghiệm giai đoạn 1 của Moderna đã rà soát bằng cách chia những người tham gia thành các nhóm khác nhau, những người được tiêm các lượng vắc xin khác nhau. Những thí điểm này cũng có thể giúp xác định các tác dụng phụ thường gặp, điều này sẽ tiếp chuyện được theo dõi trong các giai đoạn sau của thử nghiệm.

chung cục, các thí nghiệm thời đoạn 1 cho thấy vắc xin COVID-19 hiện đã được thông qua là an toàn để sử dụng trên người. Một số ứng cử viên vắc xin đã rơi vào rào cản trước nhất: ứng cử viên vắc xin Merck đã bị rút lại vào tháng 1 năm 2021 sau khi các thử nghiệm tuổi 1 cho thấy phản ứng miễn dịch ở những người được tiêm vắc xin kém hơn so với những người đã có COVID, và cũng kém hơn các phản ứng đã thấy đối với các loại vắc xin khác.

Hy vọng rằng những nuốm tạo ra vắc xin COVID cũng sẽ hỗ trợ phát triển vắc xin cho các bệnh khác trong tương lai. thí dụ, đã có một loại vắc xin RNA đang được phát triển cho bệnh sốt rét . Và giờ chúng ta đã có vắc xin, người ta cũng hy vọng rằng nếu các biến thể của SARS-CoV-2 xuất hiện mà vắc xin hiện tại kém hiệu quả hơn, thì sẽ tương đối dễ dàng để điều chỉnh các vắc xin hiện có để chống lại chúng.

Bài viết đến đây là hết rồi. trông coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest .

Hóa học đằng sau thuốc kích dục

Hoạt động tình dục kém là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Sức khỏe tình dục đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực đối với dục tình của con người. Trong đó, bệnh tim mạch và tiểu đường là những nguyên tố chính gây ra tình trạng kém hiệu quả tình dục và sức khỏe sản xuất. bởi vậy việc dùng thuốc kích dục để cải thiện khả năng dục tình và khả năng sinh dục là một phần tất yếu của cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên hóa học đằng sau thuốc kích dục thì không phải ai cũng biết. Vì thế trong bài viết lần này, chúng ta sẽ tìm hiểu về chúng để hiểu rõ hơn nhé!

Đôi nét

Theo wikipedia thì thuốc kích dục là một chất làm tăng thèm muốn dục tình, hấp dẫn tình dục, khoái cảm dục tình hoặc hành vi tình dục. Các chất có từ nhiều loại thực vật, gia vị, thực phẩm và hóa chất tổng hợp.

Điền hình là thuốc Viagra (sildenafil) đã cuộn sự chú ý của công chúng như thuốc kích dục. Việc tầm những chất như vậy đã có từ hàng thiên niên kỷ trước. Thuốc kích dục có thể được phân loại theo phương thức hoạt động của chúng và chia thành 3 loại: những loại làm tăng (1) thèm muốn dục tình, (2) hiệu lực, hoặc (3) khoái cảm dục tình. Các chất khác nhau có cỗi nguồn động thực vật đã được sử dụng trong các loại thuốc dân gian của các nền văn hóa khác nhau; một số đã được xác định về mặt dược lý, cho phép hiểu được cơ chế hoạt động của chúng.

Thuốc Viagra. Ảnh: Báo Người cần lao

Cả nam và nữ đều có thể được hưởng lợi từ việc sử dụng thuốc kích dục, nhưng loại thuốc này hội tụ nhiều hơn vào nam giới vì đặc tính của chúng có thiên hướng làm tăng mức testosterone hơn là mức estrogen . Điều này một phần là do bối cảnh lịch sử của thuốc kích dục, vốn chỉ giao hội vào nam giới. Chỉ gần đây người ta mới để ý đến việc tìm hiểu cách thức thuốc kích dục có thể hỗ trợ chức năng tình dục của phụ nữ. Ngoài ra, ảnh hưởng văn hóa trong hành vi tình dục phù hợp từ nam và nữ cũng góp phần tạo nên khoảng cách nghiên cứu.

Cơ chế tiềm năng của thuốc kích dục

Thuốc kích dục là những sản phẩm có thể khơi dậy ham muốn tình dục. Những sản phẩm này kích thích vùng dưới đồi tiết ra oxit nitric, rút cục làm giãn mạch máu của thể hang và kích hoạt enzyme guanylate cyclase (GC) chuyển đổi nucleotide guanosine triphosphate (GTP) thành cyclic guanosine monophosphate (cGMP), làm tăng lưu lượng máu vào mô dương vật dẫn đến cương cứng dương vật.

Sự cương cứng kết thúc sau một thời kì vì cGMP bị thủy phân bởi men phosphodiesterase enzym type-5 (PDE-5) thành GMP không hoạt động. (Enzyme PDE-5 trú ngụ trong các mô dương vật). Tiềm năng kích thích dục tình ức chế hoạt động thủy phân của PDE-5 với kết quả là cGMP hoạt động có thể điển tích. ‘Không bị quấy rầy’ và kéo dài thời gian cương cứng thông qua việc tăng lưu lượng máu.

Cơ chế hoạt động có thể có của các tác nhân kích thích tình dục. Ảnh: ResearchGate

Hóa học đằng sau

Nội dung sau đây chỉ có thuộc tính tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa.

Các chất làm tăng thèm muốn dục tình

Các loại thuốc kích dục này tác động đến hệ thống thần kinh trung ương bằng cách thay đổi chất dẫn truyền thần kinh đặc hiệu hoặc nồng độ hormone giới tính đặc hiệu. Một trong số chúng có thể hiệu quả trong cả hai giới, mặc dầu hầu hết đều hoạt động duyệt sự gia tăng nồng độ testosterone và do đó dành riêng cho nam giới.

Ambrein , một thành phần chính của Long duyên hương ( Ambra grisea ), được dùng ở các nước Ả Rập. Nó được tìm thấy trong ruột của cá nhà táng, và việc sử dụng nó trong y khoa dân gian rất rộng rãi, như điều trị đau đầu và thấp khớp. Ngoài ra, nó còn được dùng để điều chế nước hoa và cải thiện hoạt động dục tình. Những nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng alcohol triterpene ba vòng này làm tăng nồng độ của một số hormone thùy trước tuyến yên và testosterone huyết thanh, từ đó kích thích tổng hợp thụ thể dopamine và hành vi dục tình. Ambrein cũng tăng cường lưu lượng noradrenergic trung ương, dẫn đến kích thích dục tình và nó có thể cản trở hoạt động co bóp của các tác nhân khác nhau (ví dụ như acetylcholine, noradrenaline, prostaglandin, oxytocin) trên cơ trơn.

Cấu trúc của Ambrein. Ảnh: Chemsrc

Salvia haematodes đã được ít là có tác dụng giải lo lắng hiệu quả, bằng cách giảm tổng hợp serotonin não và chứa flavonoid , có đặc tính chống oxy hóa. Các hợp chất chống oxy hóa có thể đổi thay nồng độ androgen.

Lithospermum arvense (cây kê chim) là một loài thực vật có lá và hạt có androgen, gonadotropic và đặc tính estrogen, do đó có tác dụng kích thích tình dục. Tuy nhiên không có độc tính.

Ở các nước Ả Rập, Brassica rapa , Prunus amygdalus , và Zingiber officinale được sử dụng để có tác dụng kích thích tình dục và nhiều đặc tính y tế khác. Nghiên cứu trên động vật đã chứng minh hoạt tính androgen của chúng, với độc tính giới hạn ảnh hưởng đến androgen (tăng cân, rụng tóc) và thiếu máu nhẹ.

Da cóc ( Bufo toad ) và các tuyến có chứa bufotenine và dẫn xuất O-metyl hóa của nó, 5-MeO-DMT (5-methoxy- N , N – dimethyvianptamine), một chất đồng loại gây ảo giác giả thiết của serotonin . Nó là thành phần hoạt tính trong ‘Hòn đá tình yêu’ của người Tây Ấn và trong thuốc chan su của người Trung Quốc. Việc sử dụng nó có niên đại từ thời tiền sử, vượt qua nhiều nền văn hóa và các đất liền. Vì có đặc tính làm tăng áp huyết nên nó được khuyên dùng như một loại thuốc chữa bệnh tim, lợi tiểu và để cầm máu tạng.

Cấu trúc của Cardenolid và Bufadienolid. Ảnh: SlideShare

Sự gia tăng không đặc hiệu trong hành vi có khuynh hướng dục tình xảy ra khi uống các chất kích thích hệ thần kinh trung ương, chả hạn như amphetamine, cocaine, tác nhân dopaminergic, caffeine, thuốc antiserotonin và cần sa. Chất kích thích đa dạng có trong đồ uống và các dẫn xuất nhai được của hạt kola, guarana, và trầu không, việc dùng chúng như thuốc kích thích dục tình và giải trí phổ biến ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Các loại hạt này cũng chứa tanin, có đặc tính gây ung thư và kháng dinh dưỡng được nhiều người biết đến.

Các chất làm tăng hiệu lực (cho phép hoặc duy trì sự cương cứng)

Phương thức hoạt động của các hợp chất này nói chung là duyệt cảm ứng giãn nở, để cho phép cương cứng xảy ra. Các biện pháp khắc phục như vậy hầu như chỉ được dùng bởi nam giới, mặc dù ở một mức độ thấp hơn, chúng có thể có hiệu quả ở nữ giới. Sildenafil (dưới tên thương hiệu Viagra), một loại thuốc uống dành cho nam giới bị rối loạn chức năng cương dương, tạo ra sự cương cứng thỏa đáng và cải thiện thỏa mãn tình dục mà không ảnh hưởng đến ham muốn dục tình.

Cấu trúc của sildenafil. Ảnh: Physicsforme

Sildenafil cũng có thể bổ ích để điều trị rối loạn chức năng dục tình nữ. Nó chừng như có hiệu quả đối với các tình trạng khác nhau gây ra bất lực, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, tình trạng cắt bỏ sản hậu, chấn thương tủy sống, tác dụng của thuốc, và thậm chí liệt dương do tâm lý. Sildenafil ức chế cạnh tranh cyclic guanosine monophosphate loại V (gọi tắt là cGMP) – enzym phosphodiesterase đặc hiệu. Sự ức chế isoenzyme đó làm tăng lượng cGMP, chất truyền tin thứ hai của nitric oxide và một chất trung gian của sự giãn mạch đối với dương vật, làm giãn các tế bào cơ trơn thể hang và làm tăng lưu lượng máu vào các khoang hang.

Điều này dẫn đến tăng sức ép trong lòng hang, đây là một nhân tố chính trong việc tạo ra cương cứng. Vì tác dụng phụ giãn mạch và tiềm năng của nó gây giảm huyết áp nguy hiểm, sildenafil không được sử dụng đồng thời với liệu pháp nitrat, và chúng không nên được sử dụng trong vòng 24 giờ cùng nhau. Bệnh nhân với rối loạn chức năng tự trị adrenergic, những người chẳng thể bù đắp cho các rối loạn huyết động, có nguy cơ đối với tác dụng hạ áp huyết của sildenafil. Thật không may, một số bệnh nhân đáng kể này có thể lại cần sildenafil.

Sildenafil có thể gây ra các tác dụng tim mạch hiểm tiềm tàng cho một số bệnh nhân cố định, chẳng hạn như những người bị bệnh mạch vành thiếu máu cục bộ hoặc suy tim sung huyết, hoặc bệnh nhân đang dùng phác đồ hạ huyết áp hoặc thuốc có thể kéo dài thời gian bán thải của sildenafil. Các bệnh nhân trong các thí nghiệm phân chia liều lượng đã ít rằng nhìn thấy một đám mây mù màu xanh và tăng độ sáng thoáng qua khi dùng sildenafil với liều trên 200 mg.

Cấu trúc Sildenafil citrate. Ảnh: ResearchGate

nhãn quan bất thường thoáng qua xảy ra ở 3% bệnh nhân trong các thí nghiệm liều linh hoạt và ở 11% bệnh nhân trong các nghiên cứu liều nhất mực và phổ biến hơn ở liều 100 mg so với liều thấp hơn. Một hiện tượng như vậy là do tác dụng của thuốc đối với phosphodiesterase võng mạc, và do đó việc dùng sildenafil được chống chỉ định ở những bệnh nhân bị viêm võng mạc sắc tố hoặc võng mạc thất thường khác. Nhức đầu xảy ra ở 11% đến 16% bệnh nhân nghiên cứu nói chung, và nó có thể nghiêm trọng.

Nhân sâm Panax ginseng (thuốc chữa bách bệnh) là một loại củ/rễ được dùng trong y khoa cổ truyền Trung Quốc. Nó hoạt động như một chất chống oxy hóa bằng cách tăng cường tổng hợp oxit nitric trong nội mô của nhiều cơ quan, bao gồm cả thể hang. Ginsenosides cũng tăng cường acetylcholine-induced và kích thích thư giãn tâm thần xuyên màng cứng liên quan đến tăng cyclic guanosine monophosphate mô, na ná như sildenafil, do đó nó có thuộc tính kích thích dục tình. Tác dụng thần kinh của nhân sâm (tăng dopamine thân não, norepinephrine, serotonin vỏ não, suy giảm hoạt tính monoamine oxidase) có thể giảng giải khả năng tăng cường trí tưởng và đặc tính chống lo âu của nó và góp phần vào tác dụng kích thích dục tình của nó.

ngoại giả, nhân sâm làm tăng đáng kể lượng mỡ và oxy tiếp nhận ở các đối tượng bình thường, và ở tải trọng cố định, nó giảm tiêu thụ oxy và sinh sản carbon dioxide và lactate, xác nhận các đặc tính công thái học của nó, đặc biệt rõ ràng khi sinh vật bị thách thức hoặc kiệt lực (thí dụ: người già và vận khích lệ). Ở liều khuyến cáo, không có độc tính nào được biết đến. Hít phải “ poppers ” có chứa nitrat béo tạo ra sự thư giãn cơ trơn, do đó làm giãn mạch và cải thiện hiệu lực. Methemoglobin huyết, một tác dụng phụ được đánh giá thấp, có thể gây tử vong.

Các chất giúp tăng cường trải nghiệm cảm giác trong quan hệ tình dục

Ảnh hưởng của các chất như vậy nói chung là ưng chuẩn kích ứng của niêm mạc sinh dục, do đó tăng cường cảm giác. Chúng được bán trong các cửa hàng tình dục và được cả hai giới dùng. Không phải liền, chúng được ăn/uống bởi một đối tượng không nghi ngờ ưng chuẩn đồ uống do đối tác (tiềm năng) chuẩn bị.

Cấu trúc của Cantharidin và Cantharidic acid. Ảnh: ScienceDirect

Cantharidin (“Ruồi Tây Ban Nha”) là một hóa chất có đặc tính hút nước có cỗi nguồn từ bọ phồng rộp, chất này đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ như một chất kích thích tình dục bởi cả hai giới. Phương thức hoạt động của nó là ức chế hoạt động của phosphodiesterase và protein phosphatase và kích thích thụ thể- β , gây ra tắc nghẽn huyết mạch và viêm. Bệnh tật do lạm dụng nó là đáng kể. Đường tiêu hóa chịu đựng gánh nặng của độc tính, dẫn đến xuất huyết tử vong. Độc tính trên thận là kết quả của quá trình bài xuất qua thận, có thể dẫn đến hoại tử ống thận cấp tính. Tác động lên tim là rất có thể do sốc xuất huyết, nhưng chúng cũng có thể do thoái hóa tơ cơ, sưng ti thể, và xuất huyết màng ngoài tim và dưới cơ tim.

Việc ăn phải bọ sống ( Palembus dermestoides ) ở Đông Nam Á và triatomids ở Mexico có thể có lý do hao hao. Những phong tục như vậy có thể ảnh hưởng đến sự phổ biến của bệnh Chagas vì các sinh vật Triatoma phyllosoma pictureurata thường chứa Trypanosoma cruzi và sán xơ mít ( Hymenolepsis diminuta , ký sinh bởi Palembus dermestoides ).

Radithor là một loại thuốc được cấp bằng sáng chế có hoạt tính phóng xạ và được dùng như một chất kích thích trao đổi chất và kích thích tình dục. Những hiệu ứng này có thể là kết quả của viêm và giãn mạch, gây ra bằng cách chiếu xạ bên trong. Độc tính bức xạ là cấm đoán.

Cấu trúc của Yohimbine. Ảnh: Sigma-Aldrich

Nhiều loại cây có đặc tính y học được cho là có tác dụng kích thích tình dục. Một số có thể có một hành động cụ thể, nhưng hồ hết hoạt động duyệt y các đặc tính giãn mạch và chống oxy hóa và như thuốc bổ nói chung. Corynantheyohimbe (một loại vỏ cây giàu chất yohimbine, do đó có thiếu gì tác dụng kích thích tình dục trung ương và ngoại vi, trong số các tác dụng về hành vi và tim mạch), Chelidonium majus , Crocus sativus , Phoenix dactylifera , Pegalum harmala , Catha edulis , Salvia haematodes , và xạ hương chỉ là một số mẫu nhỏ trong số đó.

Nhiều loại thực phẩm cũng được cho là có đặc tính kích thích tình dục. Trong số đó có các loại gia vị (hồi, húng quế , rau mùi, thìa là, xô thơm, gừng, tỏi, nghệ tây), rau (atisô, măng tây), hàu, sô cô la, và nhiều loại trái cây. Nói chung, nhiều trong số chúng chứa các loại dầu dễ bay hơi hoạt động như chất gây kích ứng khi bài tiết qua đường tiết niệu, gây căng sữa niêm mạc. Có rất ít bằng cớ dược lý để tương trợ tuyên bố về kích thích dục tình trong một số mặt hàng này. bởi vậy, bạn phải cẩn thận khi sử dụng chúng với số lượng lớn.

Bài viết đến đây là hết rồi. coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Paola Sandroni , Thomas G. Waddell , Olorunfemi Abraham Eseyin , Mahima Sharma , Matthew Rozsa , Health C&EN .

Thời Tiết

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến