Nobel y học 2019: Cảm biến oxy trong cơ thể

Động vật cần oxy để chuyển đổi thức ăn thành năng lượng bổ ích. Tầm quan trọng cơ bản của oxy đã được hiểu trong nhiều thế kỷ, nhưng làm thế nào các tế bào thích ứng với sự đổi thay nồng độ oxy từ lâu vẫn chưa được biết đến.

William G. Kaelin Jr., Peter J. Ratcliffe và Gregg L. Semenza đã khám phá ra cách các tế bào có thể cảm nhận và thích nghi với việc đổi thay lượng oxy có sẵn. Họ đã xác định cỗ máy phân tử điều chỉnh hoạt động của gen để đáp ứng với mức độ oxy khác nhau.

Những khám phá tinh tế của những người đoạt giải Nobel năm nay, đã tiết lậu cơ chế cho một trong những quá trình thích ứng cần yếu nhất của cuộc sống. Họ đã thiết lập cơ sở cho sự hiểu biết của chúng ta về mức độ oxy ảnh hưởng đến chuyển hóa tế bào và chức năng sinh lý. Những khám phá của họ cũng đã mở đường cho những chiến lược mới đầy hẹn để chống lại bệnh thiếu máu, ung thư và nhiều bệnh khác.

Sự quan yếu của oxy

Oxy, với công thức O 2 , chiếm khoảng 1/5 bầu khí quyển của Trái đất. Oxy rất cần thiết cho đời sống động vật: nó được dùng bởi ty thể có trong hồ hết các tế bào động vật, để chuyển đổi thức ăn thành năng lượng hữu dụng. Otto Warburg , người nhận giải thưởng Nobel về sinh lý học hoặc y khoa năm 1931, tiết lậu rằng việc chuyển đổi này là một quá trình enzyme.

Trong quá trình tiến hóa, các cơ chế được phát triển để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho các mô và tế bào. Động mạch cảnh của thân thể, liền kề với các mạch máu lớn ở hai bên cổ, chứa các tế bào chuyên biệt cảm nhận mức oxy của máu. Giải thưởng Nobel về y khoa năm 1938 cho Corneille Heymans , đã trao giải cho những khám phá cho thấy cảm giác oxy trong máu qua cơ thể động mạch cảnh kiểm soát nhịp hô hấp của chúng ta bằng cách giao tiếp trực tiếp với não.

HIF: nguyên tố gây thiếu oxy

Ngoài việc thích ứng nhanh của thân thể do carotid (động mạch cảnh chung) kiểm soát với mức oxy thấp ( thiếu oxy ), còn có những điều chỉnh sinh lý căn bản khác. Một phản ứng sinh lý quan yếu đối với tình trạng thiếu oxy là sự gia tăng nồng độ hormone erythropoietin (gọi tắt là EPO), dẫn đến tăng sinh sản hồng huyết cầu. Tầm quan trọng của việc kiểm soát nội tiết của hồng cầu đã được biết đến vào đầu thế kỷ 20, nhưng quá trình này được kiểm soát bởi O 2 vẫn còn là một bí hiểm.

Gregg Semenza đã nghiên cứu gen EPO và cách nó được điều chỉnh bằng cách đổi thay nồng độ oxy. Bằng cách sử dụng chuột biến đổi gen, các phân đoạn DNA cụ thể nằm bên cạnh gen EPO đã được hiển thị để làm trung gian cho phản ứng với tình trạng thiếu oxy. Peter Ratcliffe cũng đã nghiên cứu khả năng phụ thuộc O 2 của gen EPO và cả hai nhóm nghiên cứu đều phát hiện ra rằng cơ chế cảm nhận oxy có mặt trong hầu hết hết thảy các mô, không chỉ trong các tế bào thận nơi EPO thường được sinh sản. Đây là những phát hiện quan trọng cho thấy cơ chế này nói chung và hoạt động ở nhiều loại tế bào khác nhau.

Semenza muốn xác định các thành phần tế bào làm trung gian cho phản ứng này. Trong các tế bào gan nuôi cấy, ông đã phát hiện ra một phức hợp protein kết liên với đoạn DNA được xác định theo cách phụ thuộc oxy. Ông gọi phức hợp này là yếu tố gây thiếu oxy (gọi tắt là HIF). Những gắng mở mang để tinh luyện phức hợp HIF bắt đầu và vào năm 1995, Semenza đã có thể công bố một số phát hiện quan yếu của mình, bao gồm cả việc xác định các gen mã hóa HIF. HIF được tìm thấy bao gồm hai protein kết liên DNA khác nhau, được gọi là các nhân tố phiên mã, hiện được đặt tên là HIF-1α và ARNT. Bây giờ các nhà nghiên cứu có thể bắt đầu giải câu đố, cho phép họ hiểu những thành phần bổ sung nào có liên tưởng và cách thức hoạt động của cỗ máy.

VHL: một nguyên tố bất ngờ

Khi nồng độ oxy cao, các tế bào chứa rất ít HIF-1α. Tuy nhiên, khi nồng độ oxy thấp, lượng HIF-1α tăng lên để nó có thể kết liên và do đó điều chỉnh gen EPO cũng như các gen khác có các đoạn DNA gắn HIF. Một số nhóm nghiên cứu cho thấy HIF-1α, thường bị suy thoái mau chóng, được bảo vệ khỏi sự suy thoái trong tình trạng thiếu oxy.

Ở mức oxy bình thường, một cỗ máy di động được gọi là proteasome , được công nhận bởi giải thưởng Nobel về hóa học năm 2004 cho Aaron Ciechanover, Avram Hershko và Irwin Rose, làm suy giảm HIF-1α. Trong điều kiện như vậy một peptide nhỏ, ubiquitin , được thêm vào protein HIF-1α. Ubiquitin có chức năng như một thẻ cho các protein được định sẵn cho sự xuống cấp trong proteasome. Làm thế nào ubiquitin liên kết với HIF-1α theo cách phụ thuộc oxy vẫn là một câu hỏi lớn.

Câu đáp đến từ một hướng bất ngờ. Gần như cùng lúc với Semenza và Ratcliffe đang tìm hiểu về gen EPO, nhà nghiên cứu ung thư William Kaelin, Jr. đang nghiên cứu một hội chứng di truyền, bệnh von Hippel-Lindau (gọi tắt là bệnh VHL). Bệnh di truyền này dẫn đến tăng đáng kể nguy cơ mắc một số bệnh ung thư trong các gia đình có đột biến VHL di truyền. Kaelin đã chỉ ra rằng gen VHL mã hóa một loại protein ngăn ngừa sự tấn công của bệnh ung thư.

Kaelin cũng chỉ ra rằng các tế bào ung thư thiếu một gen VHL chức năng trình diễn.# mức độ cao của các gen bị thiếu oxy điều hòa; nhưng khi gen VHL được đưa vào tế bào ung thư, chừng độ thường ngày đã được phục hồi. Đây là một làm mối quan yếu cho thấy VHL bằng cách nào đó có can hệ đến việc kiểm soát các phản ứng đối với tình trạng thiếu oxy. Các mai mối bổ sung đến từ một số nhóm nghiên cứu cho thấy VHL là một phần của phức hợp gắn nhãn protein với ubiquitin, đánh dấu chúng cho sự xuống cấp trong proteasome.

Ratcliffe và nhóm nghiên cứu của ông sau đó đã thực hành một khám phá quan trọng: chứng minh rằng VHL có thể tương tác vật lý với HIF-1α và cần thiết cho sự thoái hóa của nó ở mức oxy bình thường. Điều này phối hợp VHL với HIF-1α.

Oxy giúp cân bằng

Nhiều mảnh ghép đã rơi vào vị trí, nhưng điều vẫn còn thiếu là sự hiểu biết về cách các cấp O 2 điều chỉnh sự tương tác giữa VHL và HIF-1α. Việc cữ tụ hợp vào một phần cụ thể của protein HIF-1α được biết là rất quan trọng đối với sự thoái hóa phụ thuộc VHL, và cả Kaelin và Ratcliffe đều nghi ngờ rằng chìa khóa của cảm biến oxy (O 2 -sensing) nằm ở đâu đó trong miền protein này.

Năm 2001, trong hai bài báo được xuất bản song song, họ đã chỉ ra rằng dưới mức oxy thông thường, các nhóm hydroxyl được thêm vào ở hai vị trí cụ thể trong HIF-1α. Điều chỉnh protein này, được gọi là prolyl hydroxylation (sự hydroxyl hóa prolyl) , cho phép VHL nhận biết và liên kết với HIF-1α và do đó giảng giải chừng độ oxy bình thường kiểm soát sự thoái hóa HIF-1α chóng vánh với sự trợ giúp của các enzyme mẫn cảm với oxy (được gọi là prolyl hydroxylase ).

Nghiên cứu sâu hơn của Ratcliffe và những người khác đã xác định các hydroxylase prolyl chịu bổn phận. Nó cũng cho thấy chức năng kích hoạt gen của HIF-1α được điều hòa bởi quá trình hydroxyl hóa phụ thuộc oxy. Những người đoạt giải Nobel hiện tại đã làm sáng tỏ cơ chế cảm nhận oxy và đã chỉ ra cách thức hoạt động của nó.

Oxy hình dạng sinh lý và bệnh lý

Nhờ vào công trình đột phá của những người đoạt giải Nobel này, chúng ta biết nhiều hơn về cách các mức oxy khác nhau điều chỉnh các quá trình sinh lý căn bản. Cảm biến oxy cho phép các tế bào thích nghi sự luận bàn chất của chúng với mức oxy thấp: ví dụ, trong cơ bắp của chúng ta trong quá trình tập tành cường độ cao.

Các tỉ dụ khác về các quá trình thích ứng được điều khiển bằng cảm biến oxy bao gồm việc tạo ra các mạch máu mới và sản xuất các tế bào hồng cầu. Hệ thống miễn dịch của chúng ta và nhiều chức năng sinh lý khác cũng được tinh chỉnh bởi bộ máy O 2 -sensing. Cảm biến oxy thậm chí đã được chứng minh là rất cần thiết trong quá trình phát triển của thai nhi, để kiểm soát sự hình thành huyết quản thông thường và sự phát triển của nhau thai.

Cảm biến oxy là trọng tâm của một số lượng lớn các bệnh. tỉ dụ, bệnh nhân suy thận mạn tính thường bị thiếu máu nặng do giảm trình bày EPO. EPO được sinh sản bởi các tế bào trong thận và rất cấp thiết để kiểm soát sự hình thành các tế bào hồng cầu, như đã giảng giải ở trên. Hơn nữa, cỗ máy điều hòa oxy có vai trò quan yếu trong bệnh ung thư. Trong các khối u, cỗ máy điều chỉnh oxy được dùng để kích thích sự hình thành huyết mạch và định hình lại quá trình đàm đạo chất để tăng sinh hiệu quả các tế bào ung thư.

Những núm không ngừng trong các phòng thí điểm hàn lâm và các công ty dược phẩm, hiện đang giao hội vào phát triển các loại thuốc có thể can thiệp vào các tình trạng bệnh khác nhau, bằng cách kích hoạt hoặc chặn cỗ máy cảm biến oxy.

Theo Nobelprize.org .

Hóa học đằng sau stress

Nhịp tim của bạn tăng lên. Hàm của bạn cứng lại. bao tử của bạn réo lên khi thời kì cứ trôi. Đầu óc bạn cảm thấy căng lên. Đây là cảm giác của stress hay găng tay khi bạn bị sức ép dẫn đến.

Triệu chứng này thì chắc ai cũng biết. Nhưng khi xem xét dưới giác độ hóa học thì đây là một chuỗi nhũng phản ứng xảy ra trong thân thể chúng ta. bởi vậy để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, bài viết lần này sẽ đề cập về hóa học đằng sau stress và những vấn đề liên can. Bạn hãy pha cho mình một ly cà phê và cùng nhấm nháp bài viết nhé! Let’s go!

Giới thiệu

Hiểu về hóa học của stress bắt đầu bằng sự đánh giá các phân tử trong thân thể chúng ta gọi là dẫn truyền thần kinh. Được mệnh danh là phân tử xúc cảm, được nhà khoa học trước tiên phát hiện ra sự tồn tại của chúng là Tiến sĩ Candace Pert, chúng được sản xuất trên khắp thân thể chúng ta, đặc biệt là trong não và dọc theo đường tiêu hóa. Một trong những chất dẫn truyền thần kinh, serotonin , nghe đâu đã được cài đặt trong chúng ta để giảm bớt phản ứng vật lý của chúng ta đối với bao tay.

Cái gọi là “phản ứng găng” được kích hoạt khi tuyến thượng thận, một cặp tuyến có kích thước bằng quả óc chó nằm trên thận, nhận được thông điệp thống khổ từ não. Tuyến thượng thận giải phóng adrenalin (ephineprine) và cortisol, hai loại hormone tuần tự chủ xướng phản ứng “ fight-or-flight ” (chiến hay chạy).

Các triệu chứng “fight-or-flight” rất thân thuộc như nhịp tim nhanh, co cơ, tay và chân lạnh, nghĩ suy bỏ chạy. Nghe thì có vẻ khó chịu nhưng trong cảnh huống hiệp, chúng rất có ích. thí dụ như phản ứng của chó khi gặp mèo ấy! Phản ứng găng được thiết kế để trở nên một sự kiện “bật và tắt”. ban sơ, nó không được thiết kế để ứng phó với bao tay mạn tính.

Tuy nhiên, khi chúng ta phát triển như con người, stress mạn tính đã đi vào cuộc sống của chúng ta. Người ta có thể mường tưởng người đàn ông thời tiền sử săn bắn nhiều ngày trong thiên nhiên và về mặt sinh học cần một hệ thống để giữ một cái đầu lạnh. Bằng cách tiết ra serotonin , đây là chất dẫn truyền tâm thần bổ ích này tuồng như hoạt động như một bộ đệm chống lại găng, cho phép chúng ta thực hiện trong môi trường xung quanh đầy thách thức hoặc thậm chí đe dọa.

Hãy xem xét một Ví dụ điển hình cho việc này bằng cách xem phim đặc vụ James Bond, ông là cá nhân chủ nghĩa nguyên mẫu có nhiều serotonin ngừa. mặc dầu đạn bay và nổ tung xe hơi, ông Bond không bao giờ đổ mồ hôi hay thất bại trong việc thực hành những cảnh nóng.

Thành phần hóa học chính

1. Dehydroepiandrosterone (DHEA)

  • Công thức phân tử: C19 H28 O2
  • M: 288.424 g / mol
  • Điểm nóng chảy: 148,5 độ Celcius hoặc 299 độ Farenheit
Cấu trúc của Dehydroepiandrosterone

DHEA là một hormone nằm ở tuyến thượng thận và có liên tưởng đến bít tất tay vì nó đã được chứng minh là giúp giảm găng tay kinh niên hoặc những người bị trầm cảm. Khi nồng độ hormone DHEA tăng, căng thẳng trong thân sẽ giảm. Đây là loại hormone phổ thông nhất trong cơ thể và giám sát năm mươi loại hormone khác.

Được phát hiện vào những năm 1930, hormone dồi dào này đã trải qua năm mươi năm tiếp theo được thử nghiệm. Vào những năm 1990 đã mang lại những nghiên cứu lớn nhất về dehydroepiandrosterone khi nó được kết luận đủ an toàn, để bán tại các cửa hàng thực phẩm thiên nhiên vì lý do bổ sung. Nhiều bệnh nhân bị mất cân bằng tuyến thượng thận được cung cấp DHEA để thăng bằng với bất kỳ vấn đề nội tiết nào khác có thể xảy ra.

2. Cortisol

  • Công thức phân tử: C21 H30 O5
  • M: 362.460 g / mol
  • Điểm nóng chảy: không rõ
Cấu trúc của Cortisol

Tương tự như DHEA, cortisol là một loại hormone được tìm thấy ở tuyến thượng thận. Cortisol được tiết ra trong quá trình “fight-or-flight” cho phép cơ thể suy nghĩ chóng vánh và hợp lý. Nồng độ cortisol cao có thể gây găng tay kinh niên, có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe đột biến. Hormone này cũng dự vào việc điều hòa huyết áp, chuyển hóa glucose thích hợp, chức năng miễn nhiễm và chống viêm. Vào những năm 1930, Edward Kendall tiết lộ rằng cortisol, giống như DHEA, nằm ở tuyến thượng thận với sáu loại hormone phổ thông khác trong thân thể.

3. Epinephrine

  • Công thức phân tử: C9 H13 NO3
  • M: 183.204 g/mol
  • Điểm nóng chảy: không rõ
Cấu trúc của Epinephrine

Epinephrine thường được sinh sản bởi cả tuyến thượng thận và một số tế bào tâm thần. Chất này đóng một vai trò quan trọng trong phản ứng chiến hay chạy bằng cách tăng lưu lượng máu đến cơ bắp, đầu ra của tim, sự giãn nở tiểu đồng và lượng đường trong máu. Epinephrine thực hành điều này bằng các tác dụng của nó đối với các thụ thể alpha và beta. Chất này được tìm thấy ở nhiều loài động vật và một số sinh vật đơn bào.

Phản ứng của thân thể khi stress

Phản ứng bao tay bắt đầu trong não. Khi ai đó đối mặt với một chiếc xe sắp tới hoặc hiểm khác, mắt hoặc tai (hoặc cả hai) gửi thông báo đến amygdala , một khu vực của não góp phần xử lý cảm xúc. Amygdala diễn giải những hình ảnh và âm thanh. Khi nhận thấy hiểm nguy, nó ngay lập tức gửi tín hiệu thống khổ đến vùng dưới đồi.

Vùng dưới đồi hơi giống một trung tâm chỉ huy. Vùng não này giao du với phần còn lại của thân thông qua hệ thống thần kinh tự chủ, điều khiển các chức năng thân thể không tình nguyện như thở, huyết áp, nhịp tim và sự giãn nở hoặc co thắt của các mạch máu chính và đường dẫn khí nhỏ trong phổi gọi là phế quản.

Hệ thống tâm thần tự chủ có hai thành phần là hệ thống tâm thần giao cảm và hệ thống tâm thần phó giao cảm. Hệ thống thần kinh giao cảm có chức năng như bàn đạp ga trong xe hơi. Nó kích hoạt phản ứng đấu tranh hoặc chạy, cung cấp cho thân thể một luồng năng lượng để nó có thể đáp ứng với những nguy hiểm nhận thức được. Trong khi đó, hệ thống tâm thần phó giao cảm hoạt động như một cái phanh. Nó xúc tiến phản ứng “nghỉ ngơi và tiêu hóa” làm dịu thân xuống sau khi hiểm đã qua.

Sau khi amygdala gửi tín hiệu thống khổ, vùng dưới đồi kích hoạt hệ thống tâm thần giao cảm bằng cách gửi tín hiệu qua các dây thần kinh tự chủ đến tuyến thượng thận. Các tuyến này phản ứng bằng cách bơm hormone epinephrine (còn được gọi là adrenaline) vào máu. Khi epinephrine lưu thông trong thân, nó mang lại một số đổi thay về sinh lý. Tim đập nhanh hơn thường nhật, đẩy máu đến các cơ, tim và các cơ quan quan trọng khác. Nhịp tim và áp huyết tăng lên. Người qua những thay đổi này cũng bắt đầu thở nhanh hơn. Đường dẫn khí nhỏ trong phổi mở rộng.

Bằng cách này, phổi có thể lấy càng nhiều oxy càng tốt với mỗi hơi thở. Oxy bổ sung được gửi đến não, tăng sự tỉnh ngủ. Thị giác, thính giác và các cảm quan khác trở nên sắc nét hơn. Trong khi đó, epinephrine kích hoạt giải phóng đường trong máu (glucose) và chất béo từ các vị trí lưu trữ tạm bợ trong thân thể. Những chất dinh dưỡng này tràn vào máu, cung cấp năng lượng cho tất cả các bộ phận của cơ thể.

tất thảy những thay đổi này xảy ra nhanh đến mức mọi người không biết về chúng. Trên thực tiễn, hệ thống dây điện hiệu quả đến mức amygdala và vùng dưới đồi bắt đầu dòng thác này ngay cả trước khi các trọng điểm thị giác của não có nhịp xử lý đầy đủ những gì đang xảy ra. Đó là lý do vì sao mọi người có thể nhảy ra khỏi con đường của một chiếc xe sắp tới ngay cả trước khi họ nghĩ về những gì họ đang làm.

Khi sự gia tăng ban sơ của epinephrine lắng xuống, vùng dưới đồi kích hoạt thành phần thứ hai của hệ thống phản ứng bao tay – được gọi là trục HPA. Mạng lưới này bao gồm vùng dưới đồi, tuyến yên và tuyến thượng thận.

Trục HPA dựa vào một loạt các tín hiệu nội tiết tố để giữ cho hệ thống tâm thần giao cảm – “bàn đạp ga” – nhấn xuống. Nếu não đấu nhận thấy thứ gì đó nguy hiểm, vùng dưới đồi sẽ tiết ra hormone giải phóng corticotropin (CRH), đi đến tuyến yên, kích hoạt giải phóng hormone tuyến thượng thận (ACTH). Hormone này đi đến tuyến thượng thận, khiến chúng phóng thích cortisol. cơ thể do đó được nâng lên và cảnh giác cao độ. Khi mối đe dọa qua đi, nồng độ cortisol giảm. Hệ thống thần kinh phó giao cảm – “phanh” – sau đó làm giảm phản ứng bít tất tay.

Một số cách để giảm stress

1. Thư giãn

Tiến sĩ Herbert Benson, giám đốc danh dự của Viện y khoa Tâm thể Benson-Henry tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts, đã dành phần nhiều sự nghiệp của ông để tìm hiểu làm thế nào mọi người có thể chống lại phản ứng găng bằng cách sử dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận gợi ra phản ứng thư giãn. Chúng bao gồm thở bụng sâu, hội tụ vào một từ nhẹ nhõm (như hòa bình hoặc bình tĩnh), hình dung ra những cảnh tĩnh, nguyện cầu lặp đi lặp lại, yoga và thái cực quyền.

hồ hết các nghiên cứu dùng các biện pháp khách quan để đánh giá chừng độ hiệu quả của phản ứng thư giãn trong việc chống lại bít tất tay mạn tính, đã được thực hành ở những người bị tăng áp huyết và các dạng bệnh tim khác. Những kết quả đó cho thấy kỹ thuật này có thể đáng để thử – Mặc dù đối với Hầu hết mọi người, nó không phải là thuốc chữa bệnh.

2. Hoạt động thể chất

Mọi người có thể dùng tập thể dục để kìm hãm sự điển tích căng thẳng theo nhiều cách. Tập thể dục, chẳng hạn như đi bộ nhanh trong thời kì ngắn sau khi cảm thấy căng thẳng, không chỉ giúp thở sâu mà còn giúp giảm căng cơ. Các liệu pháp vận động như yoga, thái cực quyền và khí công kết hợp các động tác nhẹ nhàng với hơi thở sâu và sự tụ họp tinh thần, tất cả đều có thể tạo ra sự bình tĩnh.

3. giao tiếp tầng lớp

Những người bạn tâm sự, bạn bè, người quen, đồng nghiệp, họ hàng, vợ / chồng và bạn đồng hành đều cung cấp một mạng tầng lớp nâng cao cuộc sống – và có thể làm tăng tuổi thọ. Không rõ tại sao, nhưng lý thuyết đệm cho rằng những người thích mối quan hệ thân thiết với gia đình và bạn bè nhận được sự hỗ trợ về mặt xúc cảm, gián tiếp giúp họ duy trì trong những lúc bít tất tay và khủng hoảng kinh niên.

Bài viết đến đây là hết rồi. nhìn sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu ai có hỏi về stress thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nó nhé!

Tham khảo Wholehealthchicago , Chemistryislife , Harvard Health Publishing , Collective-evolution , C&EN Experiencelife .

Chú ý: thông tin về stress và một số cách giảm stress trong bài viết này chỉ mang thuộc tính tham khảo và không dùng để thay thế cho lời khuyên y tế trực tiếp từ bác sĩ. thành thử hãy hỏi ý kiến thầy thuốc hoặc chuyên gia để cho thông báo chính xác hơn trước khi thực hành. Xin cảm ơn!

Các loại virus đằng sau bệnh cảm lạnh và cúm

Vào thời khắc này, bạn có nhẽ đã nghe rất nhiều thông tin về bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (nCoV) gây ra. Loại bệnh này phát xuất từ Vũ Hán – Trung Quốc. Tính đến thời điểm của bài viết này thì đã có:

  • 80 người tử vong do viêm đường hô hấp cấp do virus corona, 2.800 ca nhiễm bệnh.
  • Trong đó, 95% ca tử vong và hơn 50% ca nhiễm bệnh ở tỉnh Hồ Bắc.
  • 55 ca nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona bên ngoài Trung Quốc đại lục, bao gồm: Australia (4 ca), Pháp (3 ca), Hong Kong (8 ca), Nhật (4 ca), Macao (5 ca), Malaysia (4 ca), Nepal (1 ca), Singapore (4 ca), Hàn Quốc (3 ca), Đài Loan (4 ca), Thái Lan (8 ca), Mỹ (5 ca) và Việt Nam (2 ca).

thông báo là vậy! Nhưng có bao nhiêu bạn đang đọc bài viết này hiểu rõ về các loại virus đằng sau bệnh cảm lạnh và cúm? thành ra trong bài viết này, blog sẽ giúp bạn hiểu qua loa về những loại virus gây bệnh này nhé!

hồ hết chúng ta sẽ không vượt qua cả mùa đông mà không bị cảm lạnh vào một lúc nào đó. nhàng nhàng, người lớn có từ hai đến năm lần cảm lạnh mỗi năm. con trẻ có làng nhàng từ bảy đến mười. Hơn 200 loại virus khác nhau có liên quan đến cảm lạnh, và những loại này có thể được chia nhỏ gọn hơn thành nhiều họ chính.

Các loại virus gây cảm lạnh cốt ở người là rhinovirus hay còn gọi là virus mũi. Virus này không được đặt theo tên của động vật có vú có sừng châu Phi / châu Á, mà từ “rhinos” Hy Lạp, có tức là “mũi”. Tên này liên can đến thực tế là các con rhinovirus sao chép tốt nhất ở nhiệt độ được tìm thấy trong mũi (33-35˚C). Đối với những người tò mò về mặt ngôn ngữ, từ ‘rhinoceros’ cũng có nguồn gốc từ Hy Lạp, có nghĩa là ‘sừng mũi’.

Có ba loài rhinovirus ảnh hưởng đến con người là A, B và C; với đường kính 30nm. Trong số này có một số lượng lớn các kiểu huyết thanh hay serotypes khác nhau. Serotypes là những virus khác nhau về protein màng của chúng. Có hơn 150 loại huyết thanh khác nhau của rhinovirus đã được biết đến và tổng thể chúng chiếm 30-50% trong hết thảy các trường hợp cảm lạnh.

Virus corona hay coronavirus là họ virus phổ quát nhất tiếp theo sau gây ra cảm lạnh, chiếm 10-15%, với 7 loài được biết đến có ảnh hưởng đến con người và có đường kính 120nm. Chúng đã đứng sau một số trường hợp dịch bệnh cao, bao gồm cả dịch SARS vài năm trước và dịch coronavirus hiện tại ở Trung Quốc .

Các triệu chứng cảm lạnh do coronavirus gây ra có thiên hướng nghiêm trọng hơn so với các triệu chứng gây ra bởi rhinovirus, và chúng cũng có thể gây viêm phổi. Tên của chúng xuất phát từ tiếng Latin cho vương miện, ‘corona’, cho các hình chiếu bề mặt giống như vương miện của chúng.

Một loại virus khác có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng hơn là virus cúm, chiếm 5-15%, có 3 loài được biết đến có ảnh hưởng đến con người và có đường kính 120nm. Nhiễm virus này thường được gọi là cúm, với các triệu chứng bao gồm sốt. Có 12 loại huyết thanh được biết đến của virus cúm A, loại phổ biến nhất ở người và gây ra dịch cúm hàng năm trên toàn thế giới.

Không giống như hầu hết các loại virus cảm lạnh khác, bạn có thể tiêm ngừa virus cúm. Điều này không thực tại – vì một số loại virus gây cảm lạnh và cúm, và chúng biến đổi chóng vánh, rất khó để phát triển một loại vắc-xin có hiệu quả và chẳng thể sinh sản một loại vắc-xin có thể bảo vệ chống lại tất cả các virus gây cảm lạnh.

Tuy nhiên, do các triệu chứng nghiêm trọng hơn và khả năng gây tử vong ở người già và dễ bị tổn thương, nên tiêm vắc-xin cúm hàng năm. Cụ thể, họ được cung cấp cho các nhóm có nguy cơ.

Hai lần một năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chỉ đạo việc sinh sản vắc-xin cúm dựa trên dự đoán các chủng virus có khả năng lưu hành. Mặc dù không đảm bảo rằng những người được tiêm phòng sẽ không bị cúm, nhưng hầu hết các năm, nó cung cấp sự bảo vệ tương đối tốt. Việc tiêm phòng chỉ tốt như dự đoán; nếu các chủng trội khác với các dự đoán, vắc-xin có thể kém hiệu quả.

Các chọn lựa điều trị khác cho cảm lạnh là rất ít và xa. Vì cảm lạnh và cúm là do nhiễm virus, kháng sinh, điều trị nhiễm khuẩn, không hiệu quả. Có bằng cớ tối thiểu về hiệu quả của các phương pháp điều trị khác như vitamin C, tỏi và mật ong. Có một số chứng cớ cho thấy viên ngậm kẽm acetate làm giảm thời kì xuất hiện triệu chứng cảm lạnh tới một phần ba nếu chúng được dùng trong vòng 24 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng.

Chúng ta thậm chí không biết tuốt mọi thứ cần biết về virus gây cảm lạnh và cúm. Ngoài các loại virus mà chúng ta đã gặp, một số loại khác có thể gây cảm lạnh. Virus hợp bào hô hấp (5%), virus parainfluenza (5%), adenovirus (<5%), enterovirus (<5%) và metapneumovirus (?%) đều là những loại khác.

Ngoài ra, trong 20-30% cảm lạnh, virus gây ra nó chẳng thể được xác định. Trong các trường hợp, nó có thể là một loại virus đã biết, nhưng các loại khác có thể là virus gây cảm lạnh chưa được phát hiện.

Trong hồ hết các trường hợp, nếu bạn bị cảm lạnh, bạn chỉ bị nhiễm một trong những loại virus mà chúng ta đã đề cập ở đây. Tuy nhiên, trong khoảng 5% trường hợp, những người bị cảm lạnh bị nhiễm cùng lúc nhiều loại virus. Không phải lúc nào bạn cũng có thể biết mình đã nhiễm loại virus nào, vì các tùy chọn điều trị (hoặc thiếu) là giống nhau, do đó không đặc biệt bổ ích để xác định.

Tuy nhiên, có một số điều bạn có thể làm để giảm các triệu chứng – và hóa học có thể trợ giúp, bạn có thể tham khảo thêm bài viết tại đây .

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , C&EN , NCBI , Scientificamerican Zing .

Phương pháp kiểm tra coronavirus làm việc như thế nào?

Tại thời điểm viết bài này, đã có hơn một phần ba triệu trường hợp được công nhận COVID-19 trên toàn thế giới. Số người chết đang lên tới hơn 14.000. nên chi việc chay đua theo thời kì để cho ra kết quả xét nghiệm là cuộc cạnh tranh giữa phòng thử nghiệm của các nhà nước. Nhưng các xét nghiệm này được thực hiện ra sao và chúng hoạt động như thế nào thì không phải ai cũng hiểu?

cho nên, trong bài viết này blog sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về phương pháp soát coronavirus và cách hoạt động của nó ra sao nhé!

Đôi nét

Các xét nghiệm hiện đang được sử dụng để xác định nhiễm coronavirus được gọi là xét nghiệm PCR. PCR là viết tắt của “phản ứng chuỗi polymerase”, và đây không phải là phương pháp xét nghiệm mới – xét nghiệm PCR đã được sử dụng từ những năm 1980 và có một loạt các áp dụng bao gồm chẩn đoán bệnh lây nhiễm. Các xét nghiệm cho phép sao chép một lượng nhỏ DNA hàng triệu lần để có đủ phát hiện và xác nhận nhiễm trùng.

Cách lấy mẫu

rà soát virus cần một mẫu. trước tiên, một miếng gạc hoặc tăm bông được đem lấy mẫu, thường là từ mũi của bệnh nhân hoặc phía sau cổ họng của họ. Gạc sau đó được đặt trong một thùng chứa an toàn và gửi đến phòng thí điểm để phân tích thêm. phân tách cần phải diễn ra trong vòng một đôi ngày kể từ khi mẫu được lấy.

DNA tạo nên nguyên liệu di truyền của chúng ta và của một số loại virus. Nhưng virus gây ra COVID-19, SARS-CoV-19, không chứa DNA chuỗi kép, mà là RNA chuỗi đơn. Vì các xét nghiệm PCR chỉ có thể tạo bản sao DNA, trước tiên chúng ta cần chuyển đổi RNA thành DNA.

Phương pháp thực hành

RNA virus được ly trích từ ​​mẫu tăm bông. Sau đó, nó cần phải được tinh luyện từ các tế bào người và các enzyme có thể can thiệp vào xét nghiệm PCR. thường nhật, các phòng thử nghiệm sử dụng bộ phương tiện được sinh sản bởi các nhà cung cấp hóa chất đặc biệt cho mục đích này để làm điều này.

RNA thuần khiết được trộn với một enzyme gọi là enzyme phiên mã ngược (reverse transcriptase). Enzyme này chuyển đổi RNA chuỗi đơn thành DNA chuỗi kép để nó có thể được sử dụng trong xét nghiệm PCR.

DNA virus sau đó được thêm vào ống thử và tiếp chuyện được thêm vào:

  • Các đoạn mồi: đây là những đoạn DNA ngắn được thiết kế để liên kết với các phần đặc trưng của DNA virus. Do đó, chúng sẽ không kết liên với DNA không phải từ virus.
  • Nucleotide: đây là những khối xây dựng hay sườn tạo nên DNA.
  • Một enzyme DNA-building: điều này tạo ra các bản sao của DNA.

Một máy PCR làm nóng hỗn hợp. Điều này làm cho DNA sợi kép tách ra và sau đó mồi có thể liên kết với DNA khi nó nguội đi. Một khi các mồi đã kết liên với DNA, chúng cung cấp một điểm khởi đầu cho enzyme DNA-building để giúp sao chép nó. Quá trình này đấu ưng chuẩn việc làm nóng và làm lạnh lặp đi lặp lại cho đến khi hàng triệu bản sao DNA được tạo ra.

Cách phát hiện virus

Phương pháp đề cập ở trên giảng giải cách PCR khuếch đại mã di truyền của virus, nhưng không phải là cách nó được phát hiện. Đây là nơi thuốc nhuộm huỳnh quang đi vào. Các loại thuốc nhuộm này được thêm vào ống nghiệm trong khi DNA đang được sao chép.

Sau đó, chúng kết liên với DNA được sao chép, giúp tăng cường huỳnh quang, khiến chúng phát ra nhiều ánh sáng hơn. Đây là ánh sáng cho phép chúng ta công nhận sự hiện diện của virus.

Sự phát huỳnh quang tăng lên khi nhiều bản sao DNA virus được tạo ra. Nếu huỳnh quang vượt qua một ngưỡng nhất thiết, đặt trên mức nền dự kiến, thí nghiệm là dương tính. Nếu virus không có trong mẫu, xét nghiệm PCR sẽ không tạo ra các bản sao, vì thế ngưỡng huỳnh quang không đạt được – thí nghiệm là âm tính.

một vài sự hạn chế

Mặc dù nghe có vẻ phức tạp, xét nghiệm PCR là một cách thẩm tra khá đáng tin cẩn đối với các bệnh lây nhiễm, đó là lý do vì sao chúng được dùng rộng rãi để thẩm tra COVID-19. Tuy nhiên, một số nhà nước đã gặp phải vấn đề khi vậy mở mang khả năng thí điểm của họ.

Một lý do cho điều này chỉ đơn giản là thực tại là bài soát mất thời gian. Có thể mất vài giờ để có kết quả; phối hợp điều này với khả năng thử nghiệm trong phòng thí điểm và nó đặt ra giới hạn về số lượng thể nghiệm mà một phòng thử nghiệm có thể thực hiện trong một ngày.

Một phòng thể nghiệm nghiên cứu nhỏ có thể có thể chạy khoảng 80 bài rà mỗi ngày; các phòng thí điểm lớn hơn nhiều với nhiều máy có thể chạy trong khoảng 1000-2000.

Một hạn chế khác là sự sẵn có của thuốc thử cấp thiết để chạy thể nghiệm. Do nhu cầu toàn cầu về các thí nghiệm này sau đại dịch đã dẫn đến sự thiếu hụt, hạn chế số lượng thể nghiệm được thực hiện.

Trong một số trường hợp, các xét nghiệm không hoạt động như dự kiến. Các xét nghiệm ban đầu được cung cấp để chẩn đoán ở Hoa Kỳ bao gồm các bộ mồi khác nhau cho các mục đích khác nhau.

Điều này bao gồm một trong đó nhắm đích một chuỗi di truyền được tìm thấy trong sờ soạng các coronavirus như một hình thức thẩm tra kiểm soát. Phần rà này không hoạt động chuẩn xác; trong khi nó không ngăn họ dùng được, nó gây ra sự lầm lẫn về việc liệu kết quả có khả quan hay không, làm chậm chẩn đoán.

Ô nhiễm hoặc suy thoái cũng có thể gây ra vấn đề. Những điều này có thể dẫn đến dương tính giả (khi ai đó không có virus nhưng xét nghiệm cho biết họ làm) hoặc âm tính giả (khi ai đó có virusnhưng xét nghiệm cho biết họ không có virus).

Một hạn chế lớn cuối cùng của loại thí điểm này là nó chỉ có thể cho bạn biết nếu ai đó có virus tại thời khắc thể nghiệm. Nó không thể cho chúng ta biết họ đã bị nhiễm virus hay chưa nhưng sau đó đã hồi phục trước khi thể nghiệm. Điều này khá hữu ích để biết, vì nếu ai đó bị nhiễm virus và đã phục hồi, họ sẽ miễn nhiễm với việc bắt lại nó (ít ra là trong một thời gian).

mai sau…

Một loại xét nghiệm có thể cho chúng ta biết liệu ai đó đã từng nhiễm virus trước đó là xét nghiệm dựa trên kháng thể. thân thể bạn sinh sản kháng thể để chống lại nhiễm trùng. Những kháng thể này tồn tại trong máu của bạn trong một thời gian sau khi bị nhiễm trùng và các xét nghiệm có thể phát hiện ra chúng.

ngày nay, một số công ty đang nghiên cứu xét nghiệm kháng thể đối với virus SARS-CoV-2 và dự định ​​rằng chúng sẽ được khai triển nhanh chóng sau khi chúng có sẵn.

Có những thí nghiệm khác cũng có thể bổ ích. Một loại khác từng các protein cụ thể trên bề mặt của virus. Chúng nhanh hơn xét nghiệm PCR, nhưng cũng kém nhạy hơn, do đó có nhiều khả năng cho kết quả không chuẩn xác.

Tổ chức Y tế Thế giới đã nhấn mạnh tầm quan yếu của xét nghiệm như là một phần của phản ứng trên toàn thế giới đối với đại dịch COVID-19. Có sự thay đổi đáng kể về số lượng thí nghiệm được thực hành ở các quốc gia khác nhau. Trung Quốc và Hàn Quốc đều đã chạy khoảng 300.000 bài soát, trong khi Vương quốc Anh và Hoa Kỳ chỉ chạy 50.000 và 40.000 tương ứng.

thí điểm ít hơn có tức thị khó theo dõi sự lây lan của nhiễm trùng và cách ly và theo dõi các tiếp xúc của người bị nhiễm bệnh.

Lời khuyên cho bạn

Cho đến khi khả năng soát tăng lên và nhiều loại xét nghiệm trở thành khả dụng, các nhà nước đang khuyên công dân của họ nên tự cách ly nếu họ nghĩ rằng họ có thể có các triệu chứng của virus.

Một số người chỉ có thể biết vững chắc rằng họ đã nhiễm virus một khi đã có xét nghiệm kháng thể, nhưng làm theo lời khuyên này và rằng cách xa từng lớp là cách tốt nhất để ngăn chặn sự lây lan của nó.

Hãy nhớ rằng, dù rằng bạn có thể không thuộc một trong những nhóm có nguy cơ bị biến chứng nghiêm trọng hoặc tử vong do virus, hành động của bạn có thể khiến bạn không truyền nó cho người khác. Và thực sự, ở trong nhà của bạn trong một đôi tuần hình như là một cái giá nhỏ phải trả để cứu một cuộc sống.

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nó nhé!

Tham khảo Zing , Wired , The bumbling biochemist , Compound Interest , và Ourworldindata .

Làm thế nào để loại bỏ coronavirus?

Làm thế nào để bạn đấu tranh một cái gì đó bạn chẳng thể nhìn thấy? Đó là câu hỏi khi nói đến cuộc khủng hoảng coronavirus hiện đang có, làm cho nhiều người trong chúng ta phải cách ly tại nhà. Khoảng cách vật lý là một câu giải đáp quan yếu để ngăn chặn sự lây lan của vi rút, vì việc tránh tiếp xúc ngăn bạn lây lan sang người khác. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể đấu tranh trực tiếp với virus?

Đôi nét

trước nhất có lẽ bạn đã biết vi rút này được gọi là “coronavirus mới” hay có tên tiếng Anh là “ novel coronavirus “. Đó chỉ là một cách khác để nói rằng đây là một loại coronavirus mà chúng ta chưa từng thấy ở người trước đây. Các coronavirus thực thụ là một họ vi rút lớn, và một trong số chúng gây ra các triệu chứng mà chúng ta gọi là cảm lạnh thường ngày. Trong đó, SARS-CoV-2 là thành viên đặc biệt của gia đình này gây ra dịch bệnh này.

Phương thức lây chính của coronavirus là từ người sang người khi họ xúc tiếp gần với nhau. Các xúc tiếp gần này có thể diễn ra dưới hình thức một cái ôm, một cái bắt tay hoặc bị kẹt trong một không gian công cộng đông đúc – nơi mà người mắc SARS-CoV-2 có thể lây bệnh bằng giọt bắn phê duyệt những cú hắt xì hay ho.

Thế nhưng vì các giọt bắn này khá nặng, chúng sẽ dễ dàng rơi xuống các bề mặt. Chúng có thể tồn tại trên những bề mặt này đủ lâu cho tới khi có người chạm tay vào và đưa virus lên mắt, mũi và miệng của mình.

Dù sao, vì đó là một loại vi rút mới, chúng ta không có vắc-xin cho nó và việc chế tác vắc-xin có xu hướng mất một khoảng thời gian. Đây là lý do tại sao việc ngăn chặn căn bệnh này lây lan mau chóng và áp đảo các bệnh viện hiện đang là tuyển lựa tốt nhất của chúng ta.

Để hiểu cách thức hoạt động của chúng, thật hữu ích khi biết về cấu trúc của loại virus đặc biệt này. SARS-CoV-2 là một loại virus có màng bao bọc (enveloped virus). Điều này có tức thị nó có một lớp bên ngoài bao xung quanh nguyên liệu di truyền của nó. Lớp bên ngoài được làm từ các phân tử chất béo và là một trong những đích có thể để diệt vi rút. Chúng ta cũng có thể nhắm đích các protein trong lớp này, hoặc thậm chí cả vật liệu di truyền.

Rửa tay trong 20 giây

Bên ngoài thân thể, có nhiều cách để chúng ta tiêu diệt vi rút và giảm thời cơ lây vi rút. “Rửa tay trong 20 giây” là câu thần chú mà bạn đã nghe nói nhiều lần trong tháng qua. Đó là bởi vì đây là cách tốt nhất để tiêu diệt vi rút. Xà phòng chứa các phân tử được gọi là chất hoạt động bề mặt, có hai đầu: một đầu hòa tan rất tốt trong chất béo (kị nước), trong khi đầu còn lại hòa tan rất tốt trong nước (ưa nước). Khi các phân tử này tiếp xúc với lớp chất béo bên ngoài của SARS-CoV-2, chúng sẽ hòa tan nó và xé virus ra.

Cách xà phòng xoá sổ virus (Đồ họa: Jonathan Corum và Ferris Jabr, Việt hóa: CafeF)

Khi bạn rửa tay với xà phòng và nước, mọi vi sinh vật trên tay bạn đều bị “vây hãm” bởi các phân tử xà phòng. Đuôi kỵ nước của các phân tử xà phòng đang trôi nổi tự do này sẽ thay tránh xa nước và trong quá trình đó, chúng sẽ va vào các màng lipid của virus và phá hủy virus.

tất cả các loại xà phòng đều chứa các phân tử chất hoạt động bề mặt này, bởi vậy việc bạn sử dụng loại nào thực thụ không quan yếu. Một số loại xà phòng có chứa các thành phần kháng khuẩn bổ sung, nhưng chúng có hoạt tính chống lại vi khuẩn (tôi đoán vậy), nên chi chúng không ảnh hưởng đến vi rút. bởi thế, các phân tử chất hoạt động bề mặt mà xà phòng chứa vẫn là thành phần hoạt chất chính.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về hóa học của xà phòng và chất hoạt động bề mặt thì bạn có thể tham khảo một bài viết khác nhẵn tại đây nhé! Xà phòng và nước không chỉ tốt cho tay của bạn – nó cũng hiệu quả trong việc làm sạch bề mặt, thành thử bạn không cần phải hấp tấp và mua bất kỳ chất tẩy rửa bề mặt ưa chuộng nào.

vì vậy xà phòng thật là tuyệt! Nhưng nếu bạn không thể rửa tay ngay lập tức thì sao? Nếu bạn đang đến siêu thị để mua sắm thực phẩm, có lẽ bạn sẽ không dễ dàng tiếp cận với xà phòng và bồn rửa. Đây là nơi mà các chất vô trùng tay, gel hay nước rửa tay khô hữu dụng – giả thử bạn đã có được một số trước khi nó hình như khan hiếm ở khắp mọi nơi.

Nước rửa tay khô

trước tiên, điều quan yếu cần lưu ý là nước rửa tay khô không phải là toàn bộ được tạo ra giống nhau. Nước rửa tay khô chứa cồn là loại mà bạn muốn. Có những loại nước rửa tay khô không chứa cồn, nhưng những chất này được chứng minh là kém hiệu quả hơn đối với vi-rút. Mặt khác, các chất tiệt trùng có cồn, có hiệu quả chống lại nhiều loại vi rút, bao gồm cả SARS-CoV-2.

Một điểm khác là chúng cần chứa ít nhất 60% cồn. Nếu bạn đang dùng nó để làm sạch các bề mặt, trọng điểm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (gọi tắt là CDC) khuyến nghị rằng cần có nồng độ cồn tối thiểu 70%. Các phân tử rượu đang thực hành công việc bẩn thỉu ở đây – chúng làm hỏng cấu trúc của protein vi rút, tiêu diệt vi rút. ngoại giả, chúng cũng hòa tan lớp chất béo bên ngoài của vi rút. Bạn có thể tham khảo thêm bại viết khác tại đây nhé!

Rửa tay bằng xà phòng và nước rửa tay khô có cồn là những chọn lọc tốt nhất để xoá sổ bất kỳ dấu vết vi rút nào trên tay bạn. Đối với các bề mặt cứng, bạn cũng có một vài tùy chọn khác hoạt động theo cách rưa rứa chống lại vi rút.

Làm sạch bề mặt cứng

Một giải pháp tẩy rất hiệu quả trong việc làm sạch các bề mặt cứng. CDC giải thích cách tạo ra dung dịch 0,1% từ thuốc tẩy gia dụng trên trang web của họ . Bleach (chất tẩy trắng) phản ứng với và phá hủy protein vi rút và nguyên liệu di truyền vi rút. Điều quan yếu là phải xịt nó lên bề mặt và sau đó để nó hoạt động trong khoảng 10 phút để đạt hiệu quả tối đa.

Điều quan trọng là không trộn chất tẩy với các chất gột rửa khác. Dù sao cũng không cần thiết, vì nó tự làm một công việc rất hiệu quả. Và nếu bạn làm thế, sẽ có nguy cơ chất tẩy rửa phản ứng với chất tẩy trắng và tạo ra khí clo độc hại. Chúng ta đang gắng để diệt virus ở đây, không phải bạn.

Tối thiểu 0,5% dung dịch hydro peroxide cũng có hiệu quả chống lại vi rút. Nó hoạt động theo cách hao hao như thuốc tẩy clo, phản ứng và phá hủy protein của vi rút và nguyên liệu di truyền. rưa rứa, nó nên được để lại cho đến mười phút. Bạn cũng không nên trộn lẫn với các chất gột rửa khác, đặc biệt là những chất có chứa giấm. Giấm và hydro peroxide tạo ra axit peracetic ăn mòn, và trong khi nó cũng được sử dụng trong một số chất tẩy rửa, không nên tự trộn lẫn nó như thế này.

Thật sự thì các tùy chọn thuốc tẩy và peroxide là quá mức cần thiết. Xà phòng và nước sẽ làm một công việc hiệu quả trên bất kỳ bề mặt nào bạn có thể làm sạch với chúng. Xà phòng cũng ít hiểm hơn khi làm việc và có thể dễ dàng dùng để thẳng tính làm sạch các bề mặt bạn chạm vào liền.

Từ chối bổn phận

Với quơ những gì đã nói ở trên, đây là thời điểm chối từ bổn phận. Bạn có thể rửa tay cứ năm phút một lần và lau chùi các bề mặt trong nhà bạn. Nó vẫn không đảm bảo bạn sẽ không nhiễm vi rút. Những gì chúng ta đang cố gắng làm ở đây là giảm rủi ro bạn dính phải nó, nhưng rất khó để giảm rủi ro đó xuống không.

Nhưng bên ngoài khoảng cách vật lý, bạn hãy hy vọng rằng việc tập luyện, rửa tay và làm sạch bề mặt là hành động trực tiếp tốt nhất chúng ta có thể thực hành để ngăn chặn vi rút lây lan. Bằng cách đó, chúng ta sẽ giảm bớt gánh nặng cho các dịch vụ y tế của mình và hy vọng sẽ giúp cứu sống.

Bài viết đến đây là hết rồi. trông sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Báo Dân Sinh , HaNoiTV , WHO , The Conversation .

Virus là gì?

Virus là gì? Đây có lẽ là câu hỏi được quan tâm nhiều nhất vào thời điểm hiện tại khi dịch Covid-19 đang diễn ra. Nhưng để hiểu rõ và giải đáp cho câu hỏi này thì không phải ai cũng hiểu đặc biệt như tôi. bởi vậy để trang bị kiến thức cho bản thân, tôi đã tìm hiểu căn bản về virus. Các bạn hãy theo tôi từng bước phân tách về chúng nhé!

Đôi nét

Các nhà khoa học từ lâu đã tìm cách khám phá ra cấu trúc và chức năng của virus. Virus là duy nhất ở chỗ chúng đã được phân loại cả dạng sống và không sống ở nhiều điểm khác nhau trong lịch sử sinh học. Virus không phải là tế bào mà là những hạt không sống, lây nhiễm. Chúng có khả năng gây ra một số bệnh, bao gồm ung thư, ở nhiều loại sinh vật khác nhau.

Các mầm bệnh virus không chỉ lây nhiễm cho người và động vật, mà còn cả thực vật, vi khuẩn, sinh vật nguyên sinh và vi khuẩn cổ. Những hạt cực nhỏ này nhỏ hơn vi khuẩn khoảng 1000 lần và có thể tìm thấy ở hồ hết mọi môi trường. Virus không thể tồn tại độc lập với các sinh vật khác vì chúng phải chiếm lấy một tế bào sống để sản xuất.

Cấu trúc của virus

Cấu trúc chung của virus gây bệnh

Một hạt virus, còn được gọi là virion, về cơ bản là axit nucleic (DNA hoặc RNA) được bao bọc hoặc phủ trong vỏ protein. Virus cực kỳ nhỏ, đường kính khoảng 20 – 400 nanomet. Loại virus lớn nhất, được biết đến với tên gọi MimVD, có thể đo đường kính lên tới 500 nanomet. Trong khi đó, một tế bào hồng huyết cầu của con người có đường kính khoảng 6000 đến 8000 nanomet.

Ngoài các kích cỡ khác nhau, virus cũng có nhiều hình dạng khác nhau. hao hao như vi khuẩn, một số virus có hình dạng hình cầu hoặc hình que. Các virus khác là icosahedral (khối đa diện có 20 mặt) hoặc hình xoắn ốc. hình dạng virus được xác định bởi lớp vỏ protein bao bọc và bảo vệ bộ gen của virus.

nguyên liệu di truyền của virus

Virus có thể có DNA chuỗi kép, RNA chuỗi kép, DNA chuỗi đơn hoặc RNA chuỗi đơn. Loại vật liệu di truyền được tìm thấy trong một loại virus cụ thể phụ thuộc vào bản chất và chức năng của loại virus cụ thể.

Các nguyên liệu di truyền thường không được tiếp xúc nhưng được đậy bởi một lớp vỏ protein được gọi là capsid. Bộ gen của virus có thể bao gồm một số lượng gen rất nhỏ hoặc lên đến hàng trăm gen tùy thuộc vào loại virus. Lưu ý rằng bộ gen thường được tổ chức dưới dạng một phân tử dài thường thẳng hoặc tròn.

Vỏ capsid của virus

Lớp vỏ protein chứa nguyên liệu di truyền của virus được gọi là capsid. Một capsid bao gồm các tiểu đơn vị protein được gọi là capsome. Capsid có thể có một số dạng hình như: đa diện, hình que hoặc dạng phức hợp. Capsid có chức năng bảo vệ vật liệu di truyền virus khỏi bị hư hại.

Ngoài lớp vỏ protein, một số virus có cấu trúc chuyên biệt. Ví dụ, virus cúm có vỏ bọc giống như màng bao quanh capsid của nó. Những virus này được gọi là virus bao bọc. Màng bọc này có cả tế bào chủ và các thành phần virus để tương trợ virus lây nhiễm vào vật chủ của nó. Bổ sung capsid cũng được tìm thấy trong vi khuẩn. tỉ dụ, vi khuẩn có thể có “đuôi” protein gắn vào capsid được dùng để truyền nhiễm vi khuẩn chủ.

Sao chép virus

Virus không có khả năng tự sao chép gen của chúng. Chúng phải dựa vào một tế bào chủ để sinh sản. Để sự nhân lên của virus xảy ra, trước tiên virus phải lây nhiễm vào tế bào chủ.

Virus tiêm vật liệu di truyền của nó vào tế bào và sử dụng các bào quan của tế bào để sao chép. Khi một số lượng virus đủ đã được sao chép, các virus mới được hình thành sẽ phá vỡ tế bào chủ và chuyển sang lây các tế bào khác. Loại sao chép virus này được gọi là chu trình tan (lytic cycle).

Một số virus có thể sao chép theo chu trình tiềm tan (lysogenic cycle). Trong quá trình này, DNA virus được đưa vào DNA của tế bào chủ. Tại thời khắc này, bộ gen của virus được biết đến như một prophage và đi vào thể không hoạt động. Bộ gen prophage được sao chép cùng với bộ gen của vi khuẩn khi vi khuẩn phân chia và được truyền dọc theo từng tế bào con của vi khuẩn.

Khi được kích hoạt bằng cách đổi thay các điều kiện môi trường, DNA prophage có thể trở nên tan (lytic) và bắt đầu sao chép các thành phần virus trong tế bào chủ. Các virus không được bao bọc được giải phóng khỏi tế bào bằng cách ly giải hoặc exocytosis . Mảng bọc virus thường được giải phóng bằng cách nảy chồi hoặc mọc mằm.

Exocytosis là quá trình chuyển di các vật liệu từ bên trong một tế bào ra bên ngoài tế bào.

Prophage là một bộ gen của vi khuẩn được đưa vào và tích hợp vào thể nhiễm sắc DNA của vi khuẩn.

Bệnh do virus

Virus gây ra một số bệnh trong các sinh vật mà chúng lây nhiễm. Nhiễm trùng ở người và các bệnh do virus gây ra bao gồm sốt Ebola, thủy đậu, sởi, cúm, HIV/AIDS và herpes.

Vắc-xin đã có hiệu quả trong việc ngăn ngừa một số loại nhiễm virus, chẳng hạn như thủy đậu nhỏ ở người. Chúng hoạt động bằng cách giúp cơ thể xây dựng phản ứng của hệ miễn dịch chống lại các loại virus cụ thể.

Các bệnh do virus gây ảnh hưởng đến động vật bao gồm bệnh dại, bệnh lở mồm long móng, cúm gia cầm và cúm lợn. Các bệnh thực vật bao gồm bệnh khảm, đốm vòng, xoăn lá và bệnh cuốn lá. Virus được gọi là vi khuẩn gây bệnh ở vi khuẩn và vi khuẩn cổ.

Bài viết đến đây là hết rồi. cầu mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco và tổng hợp.

Hóa học đằng sau sữa không đường lactose

Nếu bạn tránh các sản phẩm sữa thông thường vì không dung nạp đường sữa , bạn có thể chuyển sang loại không có đường sữa và các sản phẩm từ sữa khác. Bạn đã bao giờ tự hỏi không dung nạp đường sữa có nghĩa là gì hoặc làm thế nào hóa chất này được loại bỏ khỏi sữa không? Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về loại sữa này nhé!

Không dung nạp lactose

Không dung nạp lactose không gây dị ứng với sữa. Điều đó có tức là thân thiếu lượng enzyme tiêu hóa lactase, cần thiết để phá vỡ đường sữa. do vậy, nếu bạn bị chứng không dung nạp đường sữa và uống sữa thẳng tính, đường sữa sẽ đi qua đường tiêu hóa của bạn và không đổi thay.

Trong khi thân bạn chẳng thể tiêu hóa được đường sữa, vi khuẩn đường ruột có thể sử dụng nó, nó giải phóng axit lactic và khí như sản phẩm của phản ứng. Điều này dẫn đến đầy hơi và đau bụng khó chịu.

Đôi nét

Tổng cộng có 65% dân số loài người hiện thời mắc chứng không dung nạp đường sữa (LI): uống sữa động vật khiến họ bị bệnh, với các triệu chứng bao gồm đau bụng và đầy hơi. Đó là mô hình tiêu biểu cho hầu hết các động vật có vú: chúng ngừng khả năng tiêu hóa sữa động vật một khi chúng đã chuyển sang thức ăn rắn.

Sau đây là những ước tính dựa trên lượng mẫu thử khá nhỏ:

  • Đông và Nam Âu: 15 – 54% có enzyme LP
  • Trung và Tây Âu: 62 – 86%
  • Quần đảo Anh và Scandinavia: 89 – 96%
  • Bắc Ấn Độ: 63%
  • Nam Ấn Độ: 23%
  • Đông Á, người Mỹ bản địa: hiếm
  • Châu Phi: một ít, với tỷ lệ cao nhất liên hệ đến những người chăn nuôi lạc đà.
  • Trung Đông: một ít, với tỷ lệ cao nhất liên hệ đến những người chăn nuôi lạc đà.

Lý do cho sự thay đổi địa lý trong sự tồn tại của lactase có can dự đến cỗi nguồn của nó. LP được cho là đã phát sinh do sự thuần hóa của động vật có vú và sự ra đời của sữa.

35% dân số khác có thể tiêu thụ sữa động vật một cách an toàn sau khi cai sữa, tức thị họ có sự tồn tại của men lactase (LP) và các nhà khảo cổ học tin rằng đó là một đặc điểm di truyền phát triển từ 7.000.000.000 năm trước trong một số cộng đồng chăn nuôi bò sữa . như Bắc Âu, Đông Phi và Bắc Ấn Độ.

Bằng chứng và lý lịch

Sự tồn tại của lactase, khả năng uống sữa khi trưởng thành và ngược lại với việc không dung nạp đường sữa, là một đặc điểm nảy ở người do hậu quả trực tiếp của việc chúng ta thuần hóa các động vật có vú khác.

Lactose là carbohydrate chính (đường disacarit) trong sữa động vật, bao gồm cả con người, bò, cừu, lạc đà, ngựa và chó. Trên thực tế, nếu một sinh vật là động vật có vú, các “bà mẹ” cho sữa và sữa mẹ là nguồn năng lượng chính cho trẻ sơ sinh và tuốt các động vật có vú rất trẻ.

Động vật có vú thường không thể xử lý đường sữa ở dạng thường ngày, và do đó, một loại enzyme thiên nhiên có tên là lactase (hoặc lactase-phlorizin-hydrolase, gọi tắt là LPH) có trong tuốt luốt các động vật có vú khi sinh. Lactase phá vỡ carbohydrate lactose thành các phần có thể dùng (glucose và galactose).

Khi động vật có vú trưởng thành và chuyển đổi từ sữa mẹ sang các loại thức ăn khác (được cai sữa), việc sản xuất lactase sẽ giảm: rút cuộc, hầu hết các động vật có vú trưởng thành đều không dung nạp được đường sữa.

Tuy nhiên, trong khoảng 35% dân số loài người, enzyme đó tiếp tục hoạt động vượt qua thời kỳ cai sữa: những người có enzyme hoạt động khi trưởng thành có thể tiêu thụ sữa động vật một cách an toàn: tính trạng tồn tại của men lactase (LP).

65% dân số khác của con người là không dung nạp đường sữa và chẳng thể uống sữa mà không có tác dụng xấu: đường sữa không tiêu hóa nằm trong ruột non và gây ra mức độ nghiêm trọng khác nhau của đi tả, đau bụng, đầy hơi và đầy hơi mạn tính.

Lactose được loại bỏ khỏi sữa như thế nào

Có một vài cách để loại bỏ đường sữa ra khỏi sữa. Như bạn đoán, quy trình càng nhiều, tổn phí sữa bán tại cửa hàng càng cao. Những phương pháp này bao gồm:

  • Thêm enzyme lactase vào sữa, về cơ bản là tiêu hóa đường thành glucose và galactose. Sữa thành phẩm vẫn chứa enzyme, do đó nó được siêu lọc để khử hoạt tính của enzyme và kéo dài hạn vận sử dụng của sữa.
  • Truyền sữa qua đường sữa mẹ bị buộc ràng với chất mang. sử dụng quy trình này, sữa vẫn chứa đường glucose và galactose chứ không phải enzyme.
  • Phân đoạn màng và các kỹ thuật siêu lọc khác tách cơ học đường sữa ra khỏi sữa. Những phương pháp này loại bỏ hoàn toàn đường, giúp bảo quản tốt hơn hương vị “thông thường” của sữa.

Tại sao sữa không có lactose lại khác nhau?

Nếu được thêm vào sữa, sữa sẽ bị phân hủy thành glucose và galactose. Sữa không chứa nhiều đường hơn trước, nhưng nó có vị ngọt hơn rất nhiều vì các thụ thể vị giác của bạn cảm nhận glucose và galactose ngọt hơn so với đường sữa. Ngoài việc nếm ngọt hơn, sữa được siêu tinh luyện có vị khác nhau vì nhiệt được thêm vào trong quá trình pha chế.

Cách làm sữa không đường lactose tại nhà

Sữa không đường lactose có giá cao hơn sữa thông thường vì các bước bổ sung cần thiết để tạo ra nó. Tuy nhiên, bạn có thể tiết kiệm đa số hoài nếu bạn tự biến sữa thường ngày thành sữa không đường. Cách dễ nhất để làm điều này là thêm lactase vào sữa. Lactase dạng lỏng có sẵn tại nhiều cửa hàng hoặc từ các nhà bán buôn trực tuyến, chả hạn như Amazon.

Lượng đường sữa được loại bỏ khỏi sữa phụ thuộc vào lượng sữa bạn bổ sung và thời kì bạn cho enzyme phản ứng (thường là 24 giờ để hoạt động đầy đủ).

Nếu bạn ít nhạy cảm hơn với tác dụng của đường sữa, bạn không cần phải đợi lâu, hoặc bạn có thể tằn tiện nhiều tiền hơn và thêm ít đường sữa hơn. Bên cạnh việc tiện tặn tiền, một lợi thế để tự làm sữa không có đường sữa là bạn sẽ không có được hương vị “nấu chín” của sữa siêu tinh chế .

Bài viết đến đây là hết rồi. nhòm sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco , Vinmec Tuổi trẻ .

Xét nghiệm kháng thể cho chúng ta biết điều gì?

Bạn đã bị nhiễm COVID-19? Ngay cả khi bạn có các triệu chứng hiệp với nó, bạn có thể không biết kiên cố nếu bạn không xét nghiệm tại thời điểm đó. Nhưng xét nghiệm kháng thể mới được duyệt y, có thể cho bạn biết nếu bạn bị nhiễm trùng. chính xác những gì các xét nghiệm này có thể cho chúng ta biết?

Trước khi đi vào nội dung chính của bài, chúng ta hãy tìm hiểu một đôi khái niệm cơ bản trước đã. trước tiên là:

Kháng thể là gì?

Kháng thể là các protein nhỏ lưu thông trong máu, là một phần trong hệ thống miễn dịch và có thể gọi là globulin miễn nhiễm. Kháng thể được sinh sản bởi các tế bào lympho B hay còn gọi là tế bào bạch huyết cầu. Các kháng thể gắn vào protein và các hóa chất khác nhau mà chúng nhận ra là có nguồn gốc từ bên ngoài vào trong thân thể. Các protein bên ngoài và hóa chất mà kháng thể gắn lại được gọi là kháng nguyên.

Hay nói một cách đơn giản thì khi một tác nhân truyền nhiễm (hoặc kháng nguyên) xâm nhập vào thân bạn, hệ thống miễn dịch của bạn sẽ phát hiện ra chúng. Sau đó, hệ thống miễn dịch tạo ra các kháng thể, một loại phân tử protein đặc biệt. Chúng xoá sổ hoặc vô hiệu hóa kháng nguyên, chống lại nhiễm trùng. cho nên, thân thể nào có khả năng hình thành kháng thể càng mạnh thì khả năng miễn dịch chống lại các bệnh nhiễm khuẩn càng cao.

Các loại kháng thể

Có nhiều loại kháng thể khác nhau. cơ thể con người tạo ra năm loại khác nhau (hoặc sử dụng thuật ngữ kỹ thuật là kiểu hình) của kháng thể là: IgM, IgD, IgG, IgA và IgE. tỉ dụ như ‘Ig’ là viết tắt của ‘immunoglobin’ (loại protein có kháng thể). Mỗi loại kháng thể có đặc điểm và vai trò khác nhau trong cơ thể. Trong đó,

5 loại kháng thể có trong máu
  • IgG : Là kháng thể phổ quát nhất trong máu, trong sữa non và các dịch mô. IgG xuyên qua nhau thai, bảo vệ con trong những tuần lễ đầu đời sau khi sinh khi hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển.
  • IgA : Chiếm khoảng 15 – 20% trong máu, trong sữa non, nước mắt và nước bọt nước bọt. Khi IgA được được tiết ra ở đâu thì chúng chống lại các tác nhân gây bệnh tại đó.
  • IgM : Là lớp miễn nhiễm trước nhất được tổng hợp ở trẻ lọt lòng. Kết hợp với các kháng nguyên đa chiều như virus và hồng cầu, giúp tiêu diệt kháng nguyên xấu, bảo vệ thân.
  • IgE : Chiếm tỷ lệ khá lớn và giữ vai trò trong phản ứng quá mẫn cấp cũng như trong cơ chế miễn dịch chống ký sinh trùng.
  • IgD : Chiếm tỷ lệ ít ra chỉ 1% trên màng tế bào, dị hoá nhanh và rất dễ bị thuỷ phân bởi enzyme plasmin trong quá trình đông máu. nên, IgD là kháng thể có ít chức năng nhất trong quá trình hoạt hoá kháng nguyên.

tất các loại kháng thể này có hai vùng chung. Vùng không đổi, y sì nhau trong các kháng thể cùng loại và vùng biến đổi. Vùng biến đổi khác nhau cho các kháng nguyên khác nhau. Các biến thể đặc biệt liên kết với các kháng nguyên cụ thể. kết liên cho phép các kháng thể tiêu diệt các kháng nguyên này hoặc đánh dấu chúng để phá hủy bởi các tế bào hệ thống miễn nhiễm khác.

miễn dịch với bệnh

miễn nhiễm đối với một bệnh cụ thể có liên tưởng đến kháng thể. Khi chúng ta đã hồi phục sau khi bị nhiễm trùng, các tế bào miễn dịch của chúng ta ‘nhớ’ kháng nguyên. Nếu chúng ta bị nhiễm cùng một loại kháng nguyên một lần nữa, hệ thống miễn nhiễm của chúng ta sẽ chóng vánh tạo ra các kháng thể một lần nữa để loại bỏ nó. miễn dịch này là suốt đời đối với một số bệnh, nhưng mất dần cho những người khác.

Xét nghiệm kháng thể

Xét nghiệm kháng thể đôi khi được thể hiện dưới dạng thí nghiệm miễn dịch – dù rằng, như chúng ta sẽ bàn thảo, nó có thể phức tạp hơn một tí so với điều đó. Các xét nghiệm kháng thể, thỉnh thoảng được gọi là xét nghiệm huyết thanh học, thường rà soát sự hiện diện của kháng thể IgM hoặc IgG đối với một kháng nguyên khăng khăng.

Kháng thể IgM là loại kháng thể trước hết được tạo ra để đáp ứng với nhiễm trùng, xuất hiện trong máu sau 5 đến 10 ngày. Sản lượng của chúng đạt đỉnh khoảng ba tuần sau khi bị nhiễm bệnh ban đầu và sau đó giảm dần. Chúng chỉ có thể được phát hiện bằng cách thử nghiệm trong 2 đến 4 tháng.

Kháng thể IgG là kháng thể phổ biến nhất được tạo ra để đáp ứng với nhiễm trùng, chiếm khoảng 75% kháng thể trong máu. Quá trình sinh sản của chúng mất nhiều thời gian hơn (10 đến 14 ngày) và đạt cực đại sau 4 đến 8 tuần) so với kháng thể IgM. Tuy nhiên, chúng vẫn tồn tại ở trong máu lâu hơn nhiều. Tùy thuộc vào kháng nguyên cụ thể, chúng có thể được phát hiện trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm sau khi bị nhiễm bệnh. Chúng cũng là kháng thể chính được sinh sản mau chóng nếu chúng ta bị tái nhiễm bởi một kháng nguyên.

Bằng cách rà các kháng thể IgM và IgG, chúng ta đang nuốm trả lời câu hỏi, có phải bệnh nhân này đã bị nhiễm trùng đặc biệt trước đó không? Câu giải đáp cho câu hỏi này được xác định từ sự hiện diện hay vắng mặt của các kháng thể này.

Kết quả của xét nghiệm kháng thể

Nếu xét nghiệm kháng thể phát hiện cả kháng thể IgM và IgG trong mẫu bệnh nhân, có khả năng bệnh nhân không bị nhiễm trùng. Vì việc sinh sản kháng thể không bắt đầu trong vài ngày, chúng ta không thể nói chắc chắn – chúng có thể ở tuổi đầu của nhiễm trùng. Cũng có khả năng họ bị nhiễm trùng nhưng không còn mức kháng thể phát hiện được nữa.

Nếu xét nghiệm kháng thể phát hiện kháng thể IgM trong mẫu bệnh nhân, nhưng không phải là kháng thể IgG, có khả năng bệnh nhân đang ở giai đoạn đầu của nhiễm trùng. Như chúng ta đã đề cập trước đây, việc sinh sản IgM bắt đầu sớm hơn IgG.

Nếu xét nghiệm kháng thể phát hiện cả kháng thể IgM và IgG trong mẫu bệnh nhân, có khả năng họ bị nhiễm trùng hoạt động. Ngoài ra, gần đây họ đã bị nhiễm trùng. Đã có đủ thời kì kể từ khi nhiễm trùng ban đầu của bệnh nhân để sản xuất cả hai loại kháng thể, nhưng nồng độ IgM vẫn chưa giảm.

Cuối cùng, nếu xét nghiệm kháng thể chỉ phát hiện kháng thể IgG trong mẫu bệnh nhân, có khả năng bệnh nhân đã bị nhiễm trùng và phục hồi. Điều này cũng có nghĩa là bệnh nhân miễn nhiễm với tái nhiễm bởi cùng một kháng nguyên.

Đôi điều …

Bạn có thể tự hỏi tại sao kháng thể không bảo đảm khả năng miễn nhiễm? Nếu bạn có kháng thể đối với một căn bệnh, bạn có thể có một số mức độ miễn dịch với nó. Nhưng xét nghiệm kháng thể không thể cho chúng ta biết hiệu quả của kháng thể của một bệnh nhân trong việc vô hiệu hóa kháng nguyên. Số lượng kháng thể được sản xuất cũng có thể quan trọng. Một số xét nghiệm kháng thể có thân xác định lượng kháng thể cụ thể trong máu là bao lăm, nhưng những xét nghiệm khác thì chẳng thể.

Khi nói đến SARS-CoV-2, chúng ta không biết khả năng miễn nhiễm có thể kéo dài bao lâu, ngay cả đối với những bệnh nhân có kháng thể. Các coronavirus nức tiếng hơn tả như một bức tranh hỗn tạp. Một số, như SARS, đã tạo ra các kháng thể giúp con người miễn dịch trong một vài năm. miễn nhiễm với người khác, như coronavirus gây cảm lạnh thông thường, chỉ có thể kéo dài một vài tháng. Hiện tại, không có trường hợp nào được công nhận tái nhiễm ở người với SARS-CoV-2, bởi vậy chúng ta chưa biết kiên cố khả năng miễn dịch kéo dài bao lâu.

Độ nhạy và độ đặc hiệu

Hãy bỏ qua miễn nhiễm sang một bên, vậy làm thế nào xét nghiệm kháng thể là xác thực? Bạn có thể đã nghe các thuật ngữ như ‘độ nhạy’ và ‘độ đặc hiệu’ liên can đến xét nghiệm kháng thể đối với coronavirus. Những thuật ngữ này đo tần suất xét nghiệm kháng thể tạo ra kết quả chính xác. Một lý do chính khiến nó mất thời gian để xét nghiệm kháng thể chính xác trở nên khả dụng là do các vấn đề với các khía cạnh này.

Độ nhạy liên tưởng đến tần suất xét nghiệm xác định chuẩn xác các kháng thể trong các mẫu có chứa kháng thể đối với một kháng nguyên cụ thể. Hãy hình dung chúng ta có mười bệnh nhân, ắt đều có kháng thể kháng nguyên. Một xét nghiệm với độ nhạy 100% sẽ xác định chính xác các kháng thể trong các mẫu từ vơ những bệnh nhân này.

Nếu xét nghiệm có độ nhạy 90%, điều đó có tức thị cứ mười bệnh nhân có kháng thể, xét nghiệm sẽ xác định không chuẩn xác một bệnh nhân không có kháng thể. Đây là những gì được gọi là âm tính giả. vì thế, độ nhạy của xét nghiệm càng cao thì càng ít âm tính giả.

Độ đặc hiệu liên hệ đến tần suất xét nghiệm chính xác cho kết quả âm tính đối với những bệnh nhân không có kháng thể với một kháng nguyên cụ thể. Hãy hình dung mười bệnh nhân của chúng ta một lần nữa; lần này, không ai trong số họ có kháng thể kháng nguyên. Một xét nghiệm với độ đặc hiệu 100% sẽ cho kết quả âm tính chuẩn xác cho tuốt tuột những bệnh nhân này.

Nếu xét nghiệm có độ đặc hiệu 90%, điều đó có tức là cứ mười bệnh nhân không có kháng thể, thì sẽ xác định không chính xác một trong số họ có kháng thể. Đây là những gì được gọi là dương tính giả. Nó có thể có vấn đề hơn là âm tính giả, vày người này có thể nghĩ rằng họ đã bị nhiễm trùng khi họ không có. Độ nhạy của xét nghiệm càng cao, càng ít kết quả dương tính giả.

đương nhiên rõ ràng là chúng ta muốn cả độ nhạy và độ đặc hiệu càng gần 100% càng tốt. thể nghiệm Roche gần đây được ưng chuẩn ở Anh tuyên bố có độ nhạy 100% – tức thị, nó không tạo ra bất kỳ âm tính giả nào. Độ đặc hiệu của xét nghiệm là 99,8% – có tức là cứ 500 người được xét nghiệm không có kháng thể thì chỉ có kết quả của một người sẽ trả về kết quả dương tính giả.

Xét nghiệm Roche là một trong hai xét nghiệm kháng thể đạt được sự ưng ý cho đến nay tại Vương quốc Anh và các xét nghiệm của các công ty khác đã được duyệt ở các quốc gia khác. Bạn có thể tự hỏi tại sao chúng ta cần hai bài soát khác nhau và liệu chúng có hoạt động khác nhau không? Nếu vậy, hãy rà soát lại phần tiếp theo của hành động nhân đôi xét nghiệm kháng thể này, coi xét cách thức các loại xét nghiệm kháng thể khác nhau hoạt động.

Bài viết đến đây là hết rồi. coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Thermofisher , Vimec Báo tin cậy .

Xét nghiệm kháng thể hoạt động như thế nào?

Trong bài viết trước, chúng ta đã xem xét xét nghiệm kháng thể cho chúng ta biết điều gì ? đã giúp cho các bạn có góc nhìn căn bản về loại xét nghiệm này. Vì thế trong bài này, chúng ta sẽ đấu coi xét cách các xét nghiệm hoạt động để đi đến kết quả của chúng. Như chúng ta sẽ thấy, không chỉ có một loại xét nghiệm kháng thể và chúng có thể đổi thay độ xác thực và thời kì chúng tạo ra kết quả.

Đôi nét

Xét nghiệm kháng thể hay xét nghiệm huyết thanh học cho SARS-CoV-2 là nhu cầu gia tăng để định lượng tốt hơn số lượng ca mắc COVID-19, bao gồm cả những trường hợp có thể không có triệu chứng hoặc đã phục hồi. Các xét nghiệm huyết thanh học là các xét nghiệm dựa trên máu có thể được sử dụng để xác định xem mọi người có tiếp xúc với một mầm bệnh cụ thể hay không bằng cách xem xét phản ứng miễn nhiễm của họ.

Ngược lại, các xét nghiệm RT-PCR hiện đang được dùng trên toàn cầu để chẩn đoán các trường hợp COVID-19 chỉ có thể chỉ ra sự hiện diện của nguyên liệu virus trong quá trình lây nhiễm và sẽ không cho biết nếu một người bị nhiễm bệnh và sau đó đã bình phục. Những xét nghiệm này có thể cung cấp chi tiết hơn về tỷ lệ mắc bệnh trong dân số bằng cách xác định các cá nhân chủ nghĩa đã phát triển kháng thể với virus.

Tại thời khắc hiện tại, Mỹ đã thông qua hơn một tá xét nghiệm kháng thể khác nhau để phát hiện kháng thể coronavirus. Các xét nghiệm được phê chuẩn này hoạt động theo những cách khác nhau và thỉnh thoảng có thể cho chúng ta biết những điều khác nhau. Và chúng ta sẽ đề cập các loại chính và cách chúng hoạt động trong nội dung dưới đây.

Các xét nghiệm chẩn đoán nhanh

Khi mọi người nói về xét nghiệm tại nhà, đây thường là loại xét nghiệm mà họ đang đề cập. Các xét nghiệm chẩn đoán nhanh (Rapid diagnostic tests, gọi tắt là RDT) cho coronavirus hoạt động trên cơ sở hao hao như xét nghiệm mang thai tại nhà (nhưng bạn không phải đi tiểu trên những xét nghiệm này). Chúng có thể hoạt động theo một vài cách khác nhau, nhưng một mô tả đơn giản về một phương pháp phổ biến theo sau.

Mẫu của bạn cho các xét nghiệm này thường sẽ là mẫu máu (từ ngón tay), mẫu nước miếng hoặc mẫu được lấy bằng tăm bông mũi. Bạn thêm mẫu vào một đầu của que thử. Một bấc ở đầu kia của que thử rút mẫu qua.

Mô hình que thử nghiệm COVID-19

Khi mẫu của bạn vượt qua que thử, nó sẽ đi qua một khu vực chứa virus bất hoạt. Nếu mẫu của bạn chứa kháng thể đối với virus, chúng sẽ liên kết với nó, nhặt nó lên và mang theo que thử. Virus cũng được gắn thẻ với các hạt nano vàng , đóng vai trò quan yếu trong việc tạo ra kết quả.

Khi mẫu tiếp tục hành trình qua que thử, nó tiếp cận các vạch thử. Những vạch này chứa các kháng thể khăng khăng lấy kháng thể của bạn, cùng với virus và các hạt nano vàng mà chúng bị mắc kẹt. Vàng có màu đỏ ở dạng hạt nano và nó làm cho một vạch màu đỏ xuất hiện trong vùng thể nghiệm. Nếu bạn không có bất kỳ kháng thể nào đối với virus trong mẫu của mình, sẽ không có gì để các kháng thể nhất thiết lấy được, thành thử vạch xét nghiệm không chuyển sang màu đỏ.

RDT thường sẽ có hai vạch thí nghiệm; một cho kháng thể IgM (M Line) và một cho kháng thể IgG (G Line). Cũng sẽ có một vạch đối chứng (Control Line); vạch này dùng các kháng thể đối chứng có trên que thử để soát coi xét nghiệm có hoạt động chính xác không. Nếu vạch đối chứng chuyển sang màu đỏ, thử nghiệm đã hoạt động xác thực. nếu không, chúng ta phải làm lại bài xét nghiệm với một que thử khác.

RDT là xét nghiệm nhanh nhất cho kháng thể, nhưng chúng bị hạn chế hơn so với một số xét nghiệm khác. Chúng chỉ có thể cho chúng ta biết nếu có kháng thể trong mẫu. Chúng không thể cho chúng ta biết có bao lăm kháng tả diện hoặc hiệu quả của kháng thể chống lại virus.

RDT cũng nằm trong số ít chuẩn xác nhất trong các xét nghiệm kháng thể. Khi nói đến coronavirus RDT, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố rằng độ nhạy của một số xét nghiệm có thể khác nhau giữa 34 – 80% . Bạn nên nhớ rằng độ nhạy của xét nghiệm cho chúng ta biết chừng độ thường xuyên mang lại kết quả dương tính cho người có kháng thể. vì thế, độ nhạy 34% sẽ khá kém: nếu 20 người có kháng thể thực hành xét nghiệm, chỉ có 7 người được xác định chính xác là có kháng thể.

Các xét nghiệm trung hòa

Không giống như RDT, các xét nghiệm trung hòa (Neutralisation assays) là các xét nghiệm dựa trên phòng thí nghiệm. Chúng cũng mất tới 5 ngày, lâu nhất trong số các xét nghiệm kháng thể được đề cập trong bài viết này. Tuy nhiên, sự chậm trễ đi kèm với một ích lợi: chúng có thể cho chúng ta biết thông tin về các kháng thể của bệnh nhân mà không có xét nghiệm nào khác có thể làm được.

Để thực hiện xét nghiệm trung hòa, mẫu máu của bạn sẽ được pha loãng ở các mức độ khác nhau. Những độ pha loãng khác nhau này sau đó được pha trộn với nồng độ không đổi của huyền phù virus, được ủ, sau đó được thêm vào tế bào chủ trong đĩa petri. Được lấp trong môi trường thạch (agar), các mẫu trong các đĩa được ủ trong vài ngày.

Xét nghiệm trung hòa trên đĩa thạch

Trong thời gian này, các khu vực của các tế bào bị nhiễm bệnh (mảng) phát triển. Kháng thể với virus trong mẫu bệnh nhân sẽ làm giảm sự hình thành mảng bám. Bằng cách so sánh kết quả ở các độ pha loãng khác nhau của mẫu bệnh nhân, chúng ta có thân xác định chừng độ hiệu quả của kháng thể đối với virus trong mẫu của bạn. Điều này rất bổ ích để biết, vì hiệu quả kháng thể có thể đổi thay. Nếu bạn có kháng thể, nhưng chúng không đặc tên hiệu quả, bạn vẫn có nguy cơ bị nhiễm virus một lần nữa trong tương lai.

Các xét nghiệm miễn dịch kết nạp kết liên với enzyme (ELISA)

Đây là một xét nghiệm dựa trên phòng thí điểm khác. Giống như RDT và xét nghiệm trung hòa, chúng có thể cho chúng ta biết liệu kháng thể chống virus có trong mẫu của bạn hay không? Ngoài ra, chúng có thể cho chúng ta ý tưởng về mức độ kháng thể trong mẫu của bạn, đây có thể là một nguyên tố quan yếu trong khả năng miễn dịch trong ngày mai. Có một đôi biến thể nhỏ của thí nghiệm này – trong bài viết này chỉ tụ hội vào phương pháp ‘gián tiếp’, nhưng cũng có những phương pháp khác ở một số góc cạnh.

ELISA (Enzyme-linked immunoabsorbent assays) gián tiếp can hệ đến việc thêm mẫu bệnh nhân vào một tấm vi mạch được phủ tốt bằng virus đã bị vô hiệu hóa hoặc protein của virus. Bất kỳ kháng thể nào trong mẫu của bạn sẽ kết liên với những chất này khi lượng vi mạch được ủ.

Các phương pháp xét nghiệm ELISA

Sau đó, các kháng thể có gắn nhãn enzyme được thêm vào. Những kháng thể này liên kết với kháng thể bệnh nhân. Sau này, một chất kết liên với enzyme (chất nền) được thêm vào. Điều này thay đổi màu sắc khi nó liên kết với enzyme, với cường độ màu can dự trực tiếp đến số lượng kháng thể trong mẫu bệnh nhân. do vậy, mẫu của bạn càng có nhiều kháng thể, màu càng đậm. Nếu bạn không có kháng thể, sẽ không có sự đổi thay màu sắc.

Các xét nghiệm dựa trên ELISA thường mất vài giờ để chạy. Chúng thường có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn RDT, tức thị kết quả dương tính giả và âm tính giả ít hơn. Nhiều xét nghiệm cũng có thể được thực hành cùng một lúc. Tuy nhiên, nó không cung cấp cho chúng ta thông tin về hiệu quả của các kháng thể trong mẫu của bạn.

Các xét nghiệm miễn dịch khác

Có một số xét nghiệm xét nghiệm miễn nhiễm khác nhau hoạt động rưa rứa như ELISA nhưng có một số dị biệt đáng để ý.

thí dụ như xét nghiệm miễn nhiễm phát quang sử dụng chất nền phát quang (sinh sản ánh sáng) thay vì chất đổi thay màu. Lượng ánh sáng được tạo ra tỷ lệ thuận với chừng độ kháng thể trong mẫu của bạn.

Một biến thể của điều này, xét nghiệm điện hóa phát quang, dán nhãn kháng thể với chất nền tạo ra ánh sáng khi có dòng điện. Một lần nữa, chừng độ ánh sáng được tạo ra tỷ lệ thuận với chừng độ kháng thể trong mẫu của bạn.

Các xét nghiệm coronavirus đã được phê chuẩn

Tại Anh, hiện có hai xét nghiệm kháng thể đối với coronavirus. Một, từ Roche , là một xét nghiệm điện hóa phát quang. Xét nghiệm này có độ đặc hiệu được thưa là 99,81% và độ nhạy 100% sau 14 ngày xác nhận nhiễm trùng. Nó có thể tạo ra kết quả trong 18 phút.

Các xét nghiệm kháng thể khác đang được dùng được sinh sản bởi Abbott . Đó là xét nghiệm vi hạt phát quang hóa với độ đặc hiệu được vắng là 99,9% và độ nhạy 100% sau 14 ngày công nhận nhiễm trùng.

Một số công ty đang cung cấp thể nghiệm Abbott nơi bạn có thể lấy mẫu tại nhà bằng cách chích ngón tay trước khi gửi đi. Tuy nhiên, chính Abbott đã tuyên bố rằng xét nghiệm của họ không được thiết kế để chạy với các mẫu máu ngón tay . bởi vậy, nếu bạn đã cân nhắc mua một trong những bộ xét nghiệm này, có thể là khôn ngoan để kiệm ước tiền của bạn và giữ cho đến khi thể nghiệm kháng thể chính thức có sẵn rộng rãi hơn.

Tại Mỹ, một số xét nghiệm khác được ưng ý cho sử dụng, bao gồm xét nghiệm RDT và ELISA. Có một loạt các thể nghiệm với độ nhạy và độ đặc hiệu của chúng (được biết đến) trên trang này .

nên chi, bạn đã thực hiện xét nghiệm kháng thể chứ?

Nếu bạn đã làm xét nghiệm kháng thể coronavirus và có kết quả, điều đó có tức thị gì? Chà, nếu bạn đã thí nghiệm âm tính, điều đó có tức là không có kháng thể nào đối với SARS-CoV-2 được phát hiện. Điều đó có nghĩa là bạn vững chắc không bao giờ bị bệnh? Chúng ta chẳng thể vững chắc 100% vì luôn có rủi ro nhỏ về kết quả âm tính giả.

Điều hao hao cũng đúng nếu bạn xét nghiệm dương tính, nghĩa là bạn có kháng thể chống lại căn bệnh này. Một lần nữa, luôn có một rủi ro nhỏ về kết quả dương tính giả. Ngay cả khi kết quả là chính xác, chúng ta không biết vững chắc rằng việc có kháng thể kiên cố sẽ ngăn bạn khỏi bệnh trở lại, hoặc ngay cả khi chúng xảy ra, khả năng miễn nhiễm đó có thể kéo dài bao lâu.

Cho đến khi chúng ta biết nhiều hơn, xét nghiệm kháng thể không phải là cánh cửa dẫn đến một từng lớp không cách ly. Ngay cả khi các xét nghiệm này hiện đang trở thành phổ thông rộng rãi hơn, chúng ta vẫn đang đợi chờ một loại vắc-xin trước khi chúng tôi có thể trở lại với cuộc sống tiền coronavirus.

Bài viết đến đây là hết rồi. trông coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Medlatec , Assaygenie , Virology , SusanPayne Center for Health Security .

Khoa học về thử nghiệm Covid-19

Khi các nhà nước chống chọi để kiểm soát đại dịch Covid-19, các xét nghiệm sinh hóa có thân xác định virus Sars-CoV-2 tiềm ẩn đã trở thành loạt tin tức lớn. Tại Mỹ vào đầu tháng 5 đặt mục tiêu kiểm tra ba triệu người mỗi tuần , trong khi đó ở Anh đặt mục tiêu 100.000 bài kiểm tra hàng ngày vào cuối tháng 4 , một thách thức lớn đã đưa ra và đã có nhiều người khác thắc mắc về vấn đề này. Tuy nhiên, điều quan trọng là những gì các bài rà soát cho chúng ta biết và cách chúng ta sử dụng thông báo đó. Bài viết này là cái nhìn tổng quan ở thời khắc ngày nay của các phương pháp thẩm tra Covid-19. Bạn hãy theo dõi bài viết để hiểu rõ thêm nhé!

vì sao chúng ta cần thí điểm?

Đối với một cá nhân, đó là cách tốt nhất để đáp câu hỏi mà có nhẽ ắt chúng ta đã tự hỏi mình trong những tuần gần đây: tôi có Covid-19 không? Vì các triệu chứng liên tưởng đến Sars-CoV-2 có thể được quy cho các bệnh khác.

Rộng hơn, xét nghiệm cung cấp thông báo quan trọng về sức khỏe cộng đồng có thể giúp các quốc gia đưa ra quyết định về cách họ sẽ đối phó với đại dịch. Xét nghiệm cũng có thể giúp tìm ra những người đã bị nhiễm bệnh mà không có bất kỳ triệu chứng nào. Điều đó đến lượt có thể cho chúng ta biết có bao nhiêu người đích thực đã bị nhiễm bệnh và ai có thể được miễn dịch sau khi bị nhiễm bệnh.

Vậy làm thế nào để các bài rà làm việc?

Nhìn chung, có hai loại xét nghiệm : loại rà soát phát hiện virus có trong thân bạn hay không và loại thẩm tra xem virus có lây truyền vào thân thể bạn trước đó không.

Loại trước nhất là loại thường can hệ đến việc lấy tăm bông cổ họng. Điều này dùng các kỹ thuật dựa trên phản ứng chuỗi polymerase (PCR) để phát hiện mã di truyền RNA Sars-CoV-2. trước hết, chuỗi RNA của virus được phiên mã thành chuỗi đơn DNA bổ sung (cDNA) bởi một enzyme gọi là enzyme sao chép ngược, để enzyme DNA polymerase có thể thực hành công việc của mình trong các bước tiếp theo.

Sau đó, các nhà khoa học giới thiệu các chuỗi DNA thăm dò được gọi là mồi cho mẫu, được thiết kế đặc biệt để tìm và liên kết chỉ với một số phần khăng khăng của chuỗi cDNA của virus. Khi các chuỗi DNA thăm dò đã liên kết với cDNA của virus, enzyme DNA polymerase được kích hoạt và điều này bắt đầu tạo ra các bản sao DNA kép của virus.

Một số chuỗi DNA dò la cũng mang thuốc nhuộm huỳnh quang, được giải phóng khi chúng kết liên với DNA virus. Khi xét nghiệm nhân lên DNA virus, nhiều phân tử thuốc nhuộm được phóng thích và huỳnh quang phát triển, cho thấy một mẫu dương tính. Các phiên bản khác của thử nghiệm. hoạt động bằng cách thêm một loại thuốc nhuộm chỉ phát huỳnh quang khi nó kết liên với DNA virus sợi đôi.

Nguồn: Courtesy of UK Research and Innovation/ CC BY 4.0 , xuất bản tại https://coronavirusexplained.ukri.org/en/article/vdt0006/

Ngoài ra còn có xét nghiệm kháng nguyên , có thể phát hiện protein của virus chứ không phải RNA của nó. Chúng dùng một slide được bao phủ trong các kháng thể đặc hiệu với virus. Nếu một mẫu chứa protein virus, chúng sẽ dính vào kháng thể. Một kháng thể huỳnh quang thứ hai sau đó được thêm vào, cũng được thiết kế để nhắm mục tiêu các protein virus và do đó sẽ bám vào bất kỳ thứ gì bị buộc ràng trong bước trước nhất. Cường độ huỳnh quang sau đó đưa ra thước đo nồng độ của virus trong mẫu.

Vậy làm thế nào tôi có thể thẩm tra nếu tôi có Covid-19 trước đây?

Điều này đẵn can dự đến việc phát hiện các kháng thể mà hệ thống miễn nhiễm của chúng ta tạo ra khi chúng tiếp xúc với virus – những chất này được tìm thấy trong máu hoặc huyết thanh của chúng ta. Một mẫu máu được lấy vào một ống hoặc màng nơi các mảnh virus đã bị mắc kẹt. Nếu mẫu máu chứa kháng thể Covid-19, chúng sẽ ăn nhập với chúng giống như một chiếc chìa khóa trong ổ khóa.

Trong phương pháp Elisa (xét nghiệm miễn nhiễm tiếp thụ kết liên enzyme), một loại kháng thể thứ hai sau đó được thêm vào. Điều này nhận ra các kháng thể của bệnh nhân và dính vào chúng (nếu chúng dính vào các hạt virus ở bước trước). Kháng thể thứ hai này cũng được kết liên với một enzyme. Ở bước rốt cuộc, thuốc nhuộm được thêm vào và nếu có enzyme (vì nó được liên kết với kháng thể bị dính với kháng thể của bệnh nhân bị dính virus), enzyme sẽ phá vỡ thuốc nhuộm và làm cho nó phát huỳnh quang. Cường độ màu sau đó được liên kết trực tiếp với nồng độ kháng thể Sars-CoV-2 trong mẫu bệnh nhân.

Nguồn: Courtesy of UK Research and Innovation/ CC BY 4.0 , xuất bản tại https://coronavirusexplained.ukri.org/en/article/vdt0006/

Những xét nghiệm này nhắm mục tiêu kháng thể immunoglobulin M (IgM) và immunoglobulin G (IgG). Phản ứng IgM xuất hiện khi chúng ta bị bệnh nặng nhất và IgG là phản ứng miễn nhiễm trưởng thành. tỉ dụ, xét nghiệm miễn nhiễm Elecsys Anti-Sars-CoV-2 của Roche xác định các kháng thể Sars-CoV-2 có ái lực cao đặc biệt, cốt là IgG và một số IgM. Trong đó, Elecsys là một hệ thống phát quang điện, chỉ tạo ra ánh sáng khi có dòng điện.

Xem tiếp trang sau…

Pages: 1 2

Thời Tiết

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến